THỜI XA VẮNG – Lê Lựu

Thời Xa Vắng – Lê Lựu

Nhờ công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986, cùng với nhiều lĩnh vực khác, đời sống văn học Việt Nam có những biến chuyển mạnh mẽ. Quá trình đổi mới này diễn ra trên cả bề rộng và bề sâu, ở cả phương diện thể loại và hướng tiếp cận đời sống. Sự phong phú về đội ngũ tác giả, sự đa dạng về tác phẩm và sự bùng nổ cá tính sáng tạo đã khiến người ta không khỏi nghĩ đến một thời kỳ hoàng kim của văn học những năm 1932 – 1945. Môi trường sáng tác thuận lợi đã mở ra những khả năng lớn cho hoạt động sáng tạo trong đó có văn học nghệ thuật. Phát triển trong thời bình và không khí dân chủ, văn học Việt Nam sau 1986 đem đến một cách nhìn mới, một quan niệm mới về hiện thực. Thay vì cảm hứng sử thi của giai đoạn trước, các nhà văn tìm tòi những nguồn cảm hứng đời tư – thế sự; thay vì xu hướng ngợi ca, văn học đặc trưng bởi thái độ phê phán trực diện những tồn đọng của cuộc sống xã hội, phản ánh kịp thời và tương đối trọn vẹn những ưu phẫn của con người cá nhân. Vì thế, văn học giai đoạn này giàu có các hình thức biểu đạt hiện thực, đa dạng các phương pháp thể hiện, đa giọng điệu và đã làm cho đời sống tinh thần của con người càng trở nên phong phú, sôi động. Lê Lựu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong cách mạng và cũng là một trong số những nhà văn quan tâm đến bước chuyển mình của đời sống nhân dân, đặc biệt là đời sống người nông dân.

Chương 1

Đôi nét về tác giả Lê Lựu

Ông sinh ngày 12/12/1942 tại Khoái Châu, Hưng Yên. Là con út (thứ 8 ) trong một gia đình nhà Nho nghèo, Lê Lựu thuộc lớp nhà văn quân đội ra đời và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Truyện ngắn đầu tiên của ông là “Tết làng Mua” (1964), sau đó là: Trong làng nhỏ, Người cầm súng… Các tiểu thuyết nổi tiếng: Mở rừng (1977), Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1994)… Thời xa vắng viết vào năm 1984, tại Đồ Sơn. Lê lựu viết trong vòng 3 tháng, tháng 6,7, 8 .

Chương 2

Giá trị nội dung của tiểu thuyết Thời xa vắng thông qua xây dựng hình tượng nhân vật

Chương 2.1 Kết cấu, cốt truyện, chủ đề

Tiểu thuyết thời xa vắng gồm có mười ba chương (kể cả chương kết thúc) được chia thành hai phần, có dung lượng tương đương nhau. Dễ dàng nhận thấy phần 1 tác giả chú trọng khai thác nhân vật Giang Minh Sài trong mối quan hệ với gia đình và đặc biệt là bi kịch của một con người không có quyền quyết định hạnh phúc của mình, phải lấy một người vợ hơn mình ba tuổi từ năm lên 10. Đến năm 18 tuổi sau một sự kiện ở cánh đồng làng mênh mông nước lũ Sài và Hương đã thực sự yêu nhau. Để trở thành một Đảng viên, để không phụ lòng trông chờ của cấp trên, của giai đình Sài đã bằng lòng về với vợ và sinh được một cậu con trai như một sự bố thí với Tuyết, vợ của mình. Sống trong đau khổ và bế tắc anh sinh ra bệnh tư tưởng mà chính ủy Đỗ Mạnh đã có lần nghĩ rằng anh bị tâm thần. Tại trại quân đội, mỗi khi rảnh anh lại ngồi viết nhật kí và tưởng tượng ra người mình yêu là Hương sẽ đến thăm mình, tất cả các anh em đồng chí sẽ nhốn nháo cả lên vì cô người yêu mà anh hết lời khen ngợi. Sau những phấn đấu anh trở thành một con người nổi tiếng, là sinh viên đại học rồi cao học, anh bày tỏ tình cảm với Châu khi lên Hà Nội sinh sống với một môi trường hoàn toàn mới. Năm 40 tuổi Sài cưới Châu và sinh được cu Thùy, nhưng cuộc sống của họ bắt đầu nảy sinh những bi kịch tan vỡ của một gia đình cọc cạch mà nói như Châu (vợ của Sài) “đồ trí thức tỉnh lẻ”. Châu sống với một tình cảm phức tạp và bất thường bởi vì quá khức của cô với một anh chàng thợ điện tên Toàn. Cô luôn bị ám ảnh bởi một người mà cô cho là lí tưởng. Từ khi sống với Châu, Sài gần như trở thành một nô lệ mà không hay biết, anh sống trong niềm hạnh phúc ích kỉ và đánh mất tình cảm của gia đình, đặc biệt là tình cảm của anh chị Tính, khuyên đứa con thứ ba phải nghỉ học một năm lên để phụ giúp chú, mặc dù bị nạt nộ, mắng nhiếc như một con ở nhưng Hưng vẫn thương chú; áp lực quá lớn đối với một đứa trẻ bị xem là con ở, Hưng phải nói dối để trốn về nhà, và từ đó mối quan hệ gia đình của Sài trở nên lạnh nhạt. Nghĩ đến công việc, nghĩ đến cảnh sống tù túng, bế tắc của gia đình nhất là khi đứa con trai bị bị cảm lạnh, khi Châu lại mang thai đứa con thứ hai.

Châu với một lối sống phóng túng và đòi hỏi quá nhiều bằng sự yên lặng tự cho mình cái quyền được chăm sóc hết mức. Một sự kiện diễn ra là Châu đã cắt hai chiếc quai ba lô, cái ba lô đã gắn biết bao nhiêu kỷ niệm của anh, nó gắn với cả một thời chiến đấu, gắn với cái chết của Thêm người đồng đội đã vì anh mà sẵn sàng làm mọi việc. Cuối cùng họ đã ra tòa li hôn. Sài nhượng toàn bộ tài sản cho Châu và nhận nuôi đứa con đầu vì nó đã lớn nhưng một sự thật đau lòng là chính miệng Châu nói ra. Thằng Thùy không phải là con của Sài vì nó sinh thiếu 2 tháng mà vẫn được 3.2 kg. Sài trở lại quê Hương và nhìn thấy quê Hương mình sau mấy chục năm vẫn nghèo nàn và lạc hậu, tâm huyết với cảnh sống ở làng quê, anh đã đóng góp sức lực của mình và làng Hạ Vị đã bắt đầu thay da đổi thịt, Sài được mọi người ngưỡng mộ, đặc biệt là tình cảm của Hương dành cho Sài vẫn như ngày nào sau bao nhiêu hiểu lầm và đau khổ. Họ vẫn không đến được với nhau vì đây là một kết thúc quá muộn màng, khi người ta đã có vợ, có chồng khi người ta đã luống tuổi và đau khổ vì tan vỡ.

Bằng kết cấu theo trục thời gian tuyến tính không có chiều quay đảo của hiện tại quá khứ và trình tự thời gian luôn tiến triển và gắn theo đó là hành trình của nhân vật, Lê Lựu đã có sự lồng ghép kết cấu bằng cách kết hợp những lá thư dài của Hương viết cho Sài [tr 64-68,122,125] Hương viết cho anh hiểu, rồi của Sài viết cho gia đình. Ngoài những lá thư còn lồng vào cuốn nhật kí của Sài, những tờ lịch công tác [chương IV, 69] hay là những bản tường trình tại tòa án khi hai người quyết định li hôn [chương XII]…chính kết cấu lắp ghép này tạo cho người kể chuyện có cái nhìn đa chiều, đó là sự kết hợp giữa lời nhân vật gắn với nội tâm và lời dẫn của người dẫn truyện – nhân chứng-tác giả, tạo nên giọng điệu khách quan của một dạng người kể chuyện toàn tri.

2.2 Hình tượng nhân vật Sài

Nhân vật trung tâm trong tác phẩm và đi suốt hai phần của cuốn sách vẫn là Sài, nếu phần một là cuộc sống của Sài trong hoàn cảnh sống ở quê Hương những năm 60, đi công tác, đi B ở chiến trường khi anh 18, 19 tuổi thì sau 20 năm khi người ta tìm về với gia đình để có được niềm vui đoàn tụ thì anh lại trốn chạy bỏ đi, ngay cả tình yêu đầu tiên nảy nở trong anh như một cú sét vậy mà khi chia tay Hương anh cũng không có đủ can đảm để nói một lời “chia tay”. Nếu khi còn là đức trẻ bị gia đình gò ép đã đành nhưng đến khi trưởng thành với những yêu ghét, giận hờn, yêu thương của lòng mình anh cũng không giám quyết định. Đến khi cả gia đình, các đồng chí tạo mọi điều kiện với mục đích là muốn tốt cho anh thì Sài đã ngoan ngoãn nghe theo như một đứa trẻ. Sợ dư luận hay nói đúng hơn dư luận là gánh nặng đè lên những con người trong tác phẩm.

Sau tất cả những gì xảy ra, sau khi có một vị trí trong xã hội, có quyền hành, có tiền bạc cũng là khi anh không giữ nổi hạnh phúc của mình, hạnh phúc của một cái mái ấm mà anh đã từng ao ước và ghen tị với những gia đình xung quanh. Khi tất cả đã xong xuôi, bi kịch gia đình đã tan vỡ Sài lại cố bám vào quá khứ để tự trách mình để thấy sự bất lực trong việc tìm ra cho mình một con đường yên ổn và hạnh phúc. Dưới đây là một đoạn hội thoại như là một sự tổng kết đối với cuộc đời và con đường mà Sài đã chọn lựa qua lời của chính ủy: “- Chính bản thân anh chất đầy cách sống của một anh làm thuê. Sẵn cơm thì ăn, sẵn việc thì làm chỉ hong hóng chờ chủ sai bảo chứ không dám quyết đoán định đoạt một việc gì. Lúc bé đã đành, khi học hành đỗ đạt anh đủ tư cách làm một công dân, một người chiến sĩ tại sao anh không dám chịu trách nói thẳng rằng: hoàn cảnh của tôi bị ép buộc như thế, nếu các anh bắt ức tôi, tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả dù phải trở về làm anh cày thuê, tôi cũng sẵn sàng để được sống tự do. Kẻ bị trói buộc không dám cựa mình giẫy giụa, chỉ hong hóng chờ đợi , thấp thỏm cầu may, chã nhẽ một chính uỷ trung đoàn như tôi lại xui anh bỏ vợ!

- Báo cáo thủ trưởng, thực ra lúc bấy giờ em rất sợ.

-Đúng. Nói như thế thì còn được. Chính tôi cũng sợ không dám can thiệp nhiều vào công việc của liên chi và của ban chính trị. Sợ ai, sợ cái gì? Không biết. Nhưng cả một thời như thế biết oán trách ai. Mà để làm gì! Cái quan trọng là xử lý cái công việc trước mắt này. Bây giờ thì tự mình định đoạt lấy cuộc sống riêng của mình chắc anh sẽ không phạm sai lầm nữa. Nhưng tôi vẫn mong anh có một cái gì khác thế. Tôi với Hà bàn nhau ”giải phóng“ việc này cốt là tạo điều kiện cho anh phấn đấu“.

Hình tượng nhân vật Sài không chỉ là một cá nhân nằm ngoài vòng xoáy của thời đại mà qua đó tác giả đã gởi gắm cả một nỗi niềm cảm thông và day dứt về một sự đổi thay tận gốc rễ cái tư tưởng nô lệ, quen sống theo ý người khác và cuối cùng đánh mất chính mình. Bi kịch của Sài cũng không phải ngẫu nhiên mà có, là một đứa trẻ đã đành nhưng những người lớn, những người có chức có quyền “thích nói gì thì nói” thực sự họ đã có tác động thế nào đối với số phận của Sài. Tích cực có, tiêu cực có. Tìm mọi cách để bắt một đứa trẻ con phải yêu vợ, đến khi yêu vợ rồi thì chính mối quan hệ họ gán ghép này lại trở thành lí do cản trở con đường tiến thân của Sài (vì gia đình nhà vợ có một lí lịch không trong sáng). Quanh quẩn trong mớ bòng bong không có lối ra. Được sự đồng ý cho li hôn “Sài mừng đến trào nước mắt” ngay cái mừng này cũng thể hiện bản lĩnh bị yếu mềm của một chiến sĩ, không dám đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của chính mình, sống bi quan, sống nhờ vào quyết định của người khác.

2.3 Hình tượng người nông dân

Sống trong một môi trường khi Đảng, Nhà nước tìm mọi cách để làm cuộc sống của nhân dân được tăng lên, yên ấm thêm nhưng trong toàn bộ những đường đi và cách thực hiện chính sách ấy không phải đã là hợp lí. Xuất hiện trong tiểu thuyết là hàng loạt những danh từ “đảng ủy, chính ủy, chi ủy, bí thư, chính sách, tư tưởng, chủ trương, đường lối” xuất hiện dày đặc trong phần 1 cuốn tiểu thuyết với một giọng điệu khách quan trung tính nhưng qua cách đặt vấn đề của Lê Lựu ta thấy rằng không khí của những năm 60 quả thực có những cái bức bối gò bó của thời đại. Chính quyền can thiệp quá nhiều và quá sâu đến đời sống của cá nhân, bao che, áp đặt, phủ nhận và răn đe… là một mớ bòng bong mà người nông dân chính là người phải gánh chịu. Không chỉ thế, tâm lí tiểu nông, lối sống làm nô lệ và an phận của người nông dân một thời cũng là bóng tối bao trùm sự tiến lên của xã hội.

Chúng ta có thể thấy nhà văn đã sử dụng một phong cách trần thuật khách quan, giọng điệu bình dân, đậm chất nông thôn, cuộc sống của làng, huyện, xã kết hợp với điểm nhìn bao quát của một “sự nhìn lại” đó là cuộc sống nhộn nhạo chật vật, lục đục của nhân dân được thể hiện ngay ở chương II của tác phẩm: “Không hiểu từ thuở nào làng chỉ quen đi làm thuê. Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon nên người sức dài vai rộng thì đi tứ chiếng bằng đủ thứ nghề: hàn nồi và cắt tóc, đốt gạch và nung vôi, thợ nề, thợ đất, thợ lặn… Dăm bữa, nửa tháng vợ hoặc con đảo qua để làm cỏ, xáo xới rồi cũng lại vội vã ra đi. Đến mùa thu hoạch lại về. Hết mùa lại đi. Cứ thế. Khi về lại nhớ cơm thiên hạ. Khi đi lại cồn cào thương từ gốc cau, bụi chuối. Họ không yêu tha thiết với đồng ruộng nhưng không đủ sức dứt bỏ những gì quen thuộc từ thuở cha sinh mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng quen gọi là quê Hương…Những người còn lại hoặc tuổi già yếu, con bận con mọn, hoặc không biết nghề, không quen đi xa, cái lực lượng sản xuất chủ yếu ấy cũng chỉ chòn chọt năm một vụ ngô, tháng mười cày bừa dối dả, tháng tư bẻ bắp chặt cây vội vàng để rồi lại nô nức kéo nhau sang bên kia sông, vào nội đồng làm thuê, sáng cắp nón đi, tối cắp nón về nói cười rả rích. Dường như số trời đã định cho làng này chỉ có việc đi làm thuê. Chen lấn, tranh cướp nhau từng người chủ, và ai được chủ tin thì coi đó là một diễm phúc có thể vênh váo, hãnh diện với kẻ khác, sẵn sàng hạch sách bắt bẻ người cùng xóm, cùng làng, cùng cánh thợ làm thuê một cách nghiệt ngã độc ác hơn cả người chủ thật. Bởi thế, cũng là tỉa ngô, rắc đỗ, ruộng nhà thì làm quáng quàng chỗ dầy, chỗ mỏng, hàng thưa hàng mau nhưng ruộng của chủ cứ đều tăm tắp. Ruộng nhà không bao giờ bón phân, cả làng không ai bón phân, cần quái gì chuồng lợn, chuồng xí. Đàn ông, đàn bà, cả người già trẻ con đều chạy toá ra đồng và lợn cũng thả rông hoặc có chuồng thì cũng chả cần phân ấy để làm gì. Chính những con người ấy lại đánh phân, rửa ráy quét dọn cả chuồng xí, chuồng lợn cho chủ rồi gánh ra đồng cứ của những người chủ tốt tươi sai quả, mấy hạt lại theo đà đâu đó, ca thán, và xỉ vả làng mình ngu si không biết đường làm ăn.” [tr21]. Qua điểm nhìn của tác giả với một giọng thật đến mức diễu cợt với ngôn ngữ bình dân, bỗ bà, có tính châm biếm. làng Hạ Vị đến gàn cuối tác phầm vẫn nghèo đói và vẫn thích chuyện làm thuê trong khi tự mình có thể kiếm sống trên mảnh đất của quê mình. “Những ”thằng“ Đại Thuần, ”thằng“ Bình Mễ sản lượng bao giờ cũng tăng, nộp và bán nghĩa vụ cho Nhà nước, năm nào cũng vượt đời sống nông dân cao vào loại nhất nhì trong tỉnh, nhưng nghĩa vụ quân sự không năm nào là không vất vả mà vẫn không đạt. Dân công đắp đê, đào sông, đắp đập, làm đường những ”thằng“ ấy cũng thay nhau bét huyện. Nhiều lần Hạ Vị làm xong suất của mình rồi còn đi làm thuê cho các xã kia. Mấy năm gần đây, anh nào nhận phần các công trình đều gạ thuê Hạ Vị” trở về với nơi mà Sài đã ra đi [tr290]. Quả thực bưc tranh nông thôn tấp nập và bận rộn nhưng lại tỏ ra không hiệu quả, người nông dẫn chưa thực sự tìm thấy sự yên ổn và đi lên.

Với một phong cách trần thuật đậm chất nông thôn, ngôn ngữ thô, bỗ bã, tục theo kiểu nhà quê đã bao quát một cái nhìn rộng và trường miêu tả rộng với những quan sát sâu sắc từ trong máu thịt của nông dân. “Thời xa vắng” là một cái ngoảnh đầu nhìn lại trước công cuộc đổi mới đang diễn ra từng ngày từng giờ trên đất nước ta. Một đất nước chịu nhiều khổ đau trong chiến tranh, một đất nước mà có những thời đoạn nhân dân bị bần cùng hóa sống trong bóng tối nô lệ. Tìm mọi cách để thay đổi số phận, để được làm cái điều mình muốn như nhân vật Sài phải trải qua những mất mát đau thương và có những khi bắt buộc phải giá rất đắt. Có đôi chỗ, đôi khi nhà văn biến nhân vật thành phát ngôn cho tư tưởng của mình, có khi lời bình luận gắn với người kể chuyện (hàm ẩn) có khi lời bình luận gắn trực tiếp với nhân vật. Đây cũng chính là dạng lời nói gián tiếp thường thấy trong phương pháp sáng tác của các nhà văn. Đó là lời của chính ủy Đỗ Mạnh, của chú Hà, của chính lời tự trào của Giang Minh Sài…

2.4 Hình tượng người phụ nữ

Xung quanh nhân vật chính là Sài là hàng loạt những người phụ nữ, đó là bà đồ Khang, chị Tính, cô Kim và đặc biệt là ba người phụ nữ có quan hệ tình cảm và quan hệ vợ chồng. Mỗi một môi trường gắn với những người phụ nữ mang những phẩm chất của môi trường ấy. Thành thị mà Châu là người con gái tiêu biểu, nông thôn với chị Tính đảm đang, lo toan chu đáo mọi công việc gia đình. Đó là Hương một tri thức có tài năng và bản lĩnh yêu thương Sài hết mực… cả ba người đều không có hạnh phúc trong mối quan hệ với Sài. Tuyết thì sống trong đau đớn, có chồng chỉ là cái tiếng nhưng kì thực là cảm giác tủi thân bị chồng hắt hủi; thèm được chồng mắng, chồng đánh, chồng tát…miễn là biết rằng chồng còn ngó ngàng đến mình chứ không phải lúc nào cũng chốn tránh, xa lánh mình, xem mình như người ở; Cắn răng chịu đựng với mọi việc nhà chồng để đổi lấy duy nhất một lần và một ơn huệ là có được đứa con với Sài. Rốt cuộc cô cũng phải li dị chồng. Sài là một thực tế phũ phàng với đời của Tuyết . Hương với nghi ngờ trong tận cùng là tình yêu thương nồng nàn với Sài, nhưng cũng vì tình yêu ấy mà cưới Thịnh, một sự chấp nhận không có tình yêu với một người đàn ông hiền lành, Hương đã có hai con nhưng không có tình cảm với thịnh. Đến với Châu, đó là vết thương lòng sâu sắc nhất của Sài vì bị lừa dối, bị phản bội; lối sống của Châu và của Sài hoàn toàn trái ngược nhau. Cách nghĩ cách làm của Sài như một người nô lệ trong gia đình và đó cũng là lí do mà Châu xem thường anh. Để đến cuối cùng họ lại phải chia tay, Châu với khuôn mặt của một kẻ phản bội với những đòi hỏi vô lí và thiếu tôn trọng trong cuộc sống vợ chồng làm hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Người phụ nữ trong thời đại nào cũng vậy, họ có một vai trò quan trọng trong việc duy trì tình yêu, duy trì hạnh phúc êm ấm của gia đình. Kết thúc chương XII khi Sài và Châu li hôn người kể chuyện đã thể hiện một giọng điệu hằn học và lên án với những vấn đề bắt đầu nóng của cuộc sống gia đình mới, của một cuộc sống đang đô thị hóa, đang văn minh hóa đó chính là rạn nứt của tình cảm gia đình, đó chính là sự tìm kiếm cuộc sống mới, khát vọng muốn làm theo ý mình, lối sống ích kỉ và buông thả. Di chuyển qua điểm nhìn của những người hàng xóm sống xung quanh nhà Sài khi gia đình họ tan vỡ : “Nhìn qua khe cửa thấy cảnh ba mẹ con kêu khóc trên một chiếc giường, nước mắt ai cũng muốn rào ra, ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai, cô gái rằng: Các ngừơi hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩm rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các ngừơi. Nhưng đừng có kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người”[tr339]

Chương 3. Đôi nét về nghệ thuật

3.1 Không-Thời gian nghệ thuật

Tác giả viết cuốn tiểu thuyết vào năm 1884 khi đất nước đang trong quá trình đổi mới và cải tạo cuộc sống xa hội. Bối cảnh của tiểu thuyết là những năm 60 của thế kỉ XX với cuộc sống bần hàn, làm thuê làm mướn của người nông dân. Đó là làng hạ vị quanh năm nghèo đói, đó là lụt lội hạn hán. Đó là không gian học tập và rèn luyện ở tại những trung đoàn, tiểu đoàn đó là những công việc thường ngày của các cấp lãnh đạo, đó là chiến trường rừngnúi cheo leo và hiểm trở có gắn bó mật thiết với cuộc sống lao động, chiến đấu và học tập của nhân dân. “thời xa vắng” là cái nhìn lại của một thời đại., một bối cảnh của đất nước ta đang trong thời kì chuyển mình, đang trong giai đoạn nhận thức và trở mình của những số phận trong xã hôi. Đó là người nông dân, trí thức, quan nhân, các cấp lãnh đạo với nào là chỉ tiêu này, tiêu chuẩn kia, lí lịch này, chủ trương, đường lối, bản lĩnh chính trị…một thời đại mà không khí chính trị cứ bao bọc chặt đến số phận cá nhân sâu sắc. đó cũng là một giai đoạn người ta đã bắt đầu làm chủ số phận của mình, một gia đoạn mới mà mõi người, mỗi gia đình đều bắt đầu có thể chọn lựa cuộc sống cho riêng mình. Nhưng trong một chừng mực nào đó người nông dân chân lấm tay bùn, làm thuê làm mướn vẫn chua thoát khỏe cuộc sống nghèo đói mà làng hạ vị quê Hương của Sài là một ví dụ điển hình

3.2. Điểm nhìn, giọng điệu tác giả trong tương quan với điểm nhìn của nhân vật

Số lượng nhân vật không nhiều, những nhân vât nào cũng được nhà văn gắn với điểm nhìn riêng. Đó chính là sự di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang nhân vật (tôi, em, anh) gắn với điểm nhìn trần thuật là lời văn của tác giả. Đó là lời kể chuyện của tác giả (người kể chuyện toàn tri) và lời của nhân vật. Dạng lời nói gián tiếp cuất hiện nhiều trong tác phẩm thông qua cách xử lí của người kể chuyện. lời văn miêu tả chân dung, miêu tả sinh hoạt, miêu tả thiên nhiên…đó là Sài dưới con mắt của chính ủy đỗ mạnh “ Ông cũng nhìn anh từ đầu đến chân, cái miệng lúc nào cũng cười, cái mắt lúc cũng như cười hóm hỉnh có phần hơi khô lại. Mái tóc mềm mại cắt thấp nhưng ngắn chỉ đủ độ dài để hơi cụp xuống trông đã lấm tấm như rắc phấn trên đầu. Trên khuôn mặt quắc thước có phần đã xám đen tai tái và hai đuôi mắt đã hơi chảy xuống. ”Gầy, xanh quá“. Ông lẩm nhẩm như nói với riêng mình.”[tr180]. Hoặc là những đoạn nhà văn miêu tả cô Tuyết vợ của mình với một giọng điệu giễu cợt đối với một người phụ nữ vô duyên và luộm thuộm: “Trên mặt chiếc bàn con đầu giường, cô đã bày đủ thứ: ấm, chén, ca, chanh, đường, chuối, bọc thư, bọc quà, bó mía. Rót nước ra ca xong, cô chạy lạch bạch ra ngoài cười nói hớn hở cách ba bốn dãy còn nghe thấy…Sài đến cổng thấy cô đang chổng mông cúi xuống giếng thơi kéo nước cho một chị con mọn cũng đến thăm chồng. Cả áo trong, áo ngoài kéo lên để lộ mảng lưng đen, lằn từng múi thịt. Chị con mọn đợi cô đổ cho gầu nước vào thùng sẽ sàng nhắc: Em cho áo trong vào quần cho nó gọn . Cô cười thoải mái, nói như cho cả người ngoài đường nghe: ở quê em, người ta cứ để thế cho nó mát chị ợ – Muốn mát thì mặc áo ngoài không cũng được – Leo ơi, thế thì nó thồng thỗng, trong quỷnh lắm, em chịu Thấy cô nói to, chị con mọn ngượng vội nhìn ra phía cổng chị quay vào nhắc khẽ: Có chú bộ đội ở ngoài kia, xem có phải chú ấy không? Cô quay ra reo: Đúng nhà em rồi chị ạ. Em về chị nhớ . Cô nói cười thoải mái khiến một vòng cốt trầu quành trên môi từ lúc nào cô vô ý chưa lau như kéo vào cái miệng rộng ra, trông càng toe toét [tr 90-91]. Lời văn miêu tả gắn với điểm nhìn của nhân vật, có khi tác giả mượn điểm nhìn của nhân vật để kể lại. điểm nhìn của Sài, của Hương, của Châu, của anh tính, của bé hưng, toàn, của anh tính…mỗi một nhân vật đều có một điểm nhìn riêng tạo cho lời văn kể có tính khách quan, các tình tiết trong mạch chuyện sang rõ và dễ hiểu.

Bằng sự di chuyển điểm nhìn liên tục kết hợp với giọng điệu khách quan lạnh lùng như vô can trong tác phẩm. Nhưng bằng việc sử dụng khẩu ngữ, những từ ngữ thô tục và thông tục đậm chất nông thôn đã hàm chứa thái độ giễu cợt, châm biếm, giọng hằn học, phê bình, giọng triết lý…thể hiện tư tưởng đóng góp của tác giả để hướng đến một sự bình giá khách quan từ người đọc.

Kết luận

Bằng việc xây dựng nhân vật tiến thân Giang Minh Sài với những nỗ lực của bản thân đã đạt được những thành công trong danh vọng và được nhiều người biết đến. Cuốn tiểu thuyết gồm hai phần nếu như phần thứ nhất Sài luôn luôn bị động về tình cảm cũng như chọn lựa của mình do cuộc sống và mang tính chất thời đại, đó là sự sắp đặt của người lớn. Sang phần 2 khi Sài đã có “đủ lông đủ cánh” để tự tạo dựng cuộc sống cho riêng mình. Chạy trốn và tìm đến một môi trường mới (cuộc sống thành thị) Sài lại bị người mình yêu lừa gạt và đối xử thiếu văn hóa. Cuối cùng Sài trở về quê Hương với đôi bàn tay trắng, muốn quay lại với người yêu sau bao năm tìm kiếm cái mình đánh mất nhưng tất cả đã muộn màng. Lời tự thú của Sài sau bào năm đi tìm hạnh phúc của mình với anh Tính: “Giá ngày ấy em cứ sống với tình cảm của chính mình, mình có thế nào sống như thế, không sợ một ai, không chiều theo ý ai, sống hộ ý định của người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người, chứ không phải cho hạnh phúc của mình. Nếu em, cứ kiên nhẫn và quyết liệt như thế, chắc bố mẹ, anh em, đơn vị cũng không đem giết em. Về sau này nếu em có kinh nghiệm, em có hiểu biết và không hoa mắt choáng ngợp trước sự hấp dẫn của thành thị, bình tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, xem tạng người mình thì hợp với ai, có lẽ em không phải lao đao, lúc nào cũng cảm thấy hụt hơi trong suốt mấy năm qua. Nửa đời người phải yêu cái ngừơi khác yêu, nửa còn lại đi yêu cái mình không có”[tr 332].

Không chỉ là cuộc sống của một cá nhân mà qua tác phẩm còn là cuộc sống của cả một thời đại, đó chính là khát vọng đổi đời của người nông dân; đó chính là cuộc sống chật vật thích làm thuê, làm mướn của nông dân hơn là tìm con đường để thay đổi cuộc đời mình. “thời xa vắng” là một cái ngoái đầu về quá khứ để thấy được đất nước ta đang thay da đổi thịt từng ngày, đó là những nỗ lực không phải một sớm một chiều mà phải qua bao khó khăn thăng trầm của lịch sử. Nước Việt Nam đã giành được tự do và độc lập, niềm hạnh phúc lớn lao biết bao khi từ kiếp sống nô lệ nhân dân vươn lên làm chủ trong xã hội tự do. Nhà văn pháp Romand Roland viết “nhìn vào bất hạnh và cười” cho hay, tiếng cười đó phải là tiếng cười của sự đấu tranh, tiếng cười của sự từ bỏ chính đáng, tiếng cười của lòng quyết tâm xây dựng một cuộc sống mới, một tư duy của thời đại mới sau những lần “quay đầu nhìn lại” để hướng đến tương lai.
Download THỜI XA VẮNG:
http://www.mediafire.com/?eueqsei5dfd7qi5
http://www.mediafire.com/?7yih0bi88rs71vs

http://sedocadena.blogspot.com/2011/05/thoi-xa-vang-le-luu.html

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: