Cha tôi, ông Phan Khôi

Phan Thị Mỹ Khanh
Cha tôi, ông Phan Khôi
Năm 2001, tập hồi ký Nhớ cha tôi, Phan Khôi (NXB. Đà Nẵng) của Phan Thị Mỹ Khanh (sinh năm 1927) được công bố rộng rãi. Cuốn sách thể hiện những hồi ức xúc động, trung thực của tác giả về gia cảnh, những chặng đường đời quanh co, cuộc sống đời thường gần gũi, hoạt động viết văn, viết báo phong phú… của bậc sinh thành, đồng thời cũng phác họa được đôi nét nổi bật về đời sống tư tưởng của một thế hệ trí thức dấn thân, và về một thời đại nhiều biến chuyển mà họ đã can dự. Sau 2 năm, Phan Thị Mỹ Khanh tiếp tục cho in hồi ký Nhớ lại một quãng đời (NXB. Đà Nẵng) bộc lộ những trải nghiệm cá nhân, giải tỏa những ký ức dồn nén, thêm một lần nữa cung cấp cho độc giả những tư liệu quý. Tuy nhiên, cho đến nay nhiều độc giả vẫn còn ít được biết đến một bài viết quan trọng cũng của Phan Thị Mỹ Khanh công bố ngay sau một năm ngày học giả Phan Khôi mất (1959) và giữa lúc đất nước đang bị chia cắt làm hai miền. Được sự đồng ý của bà Phan Thị Mỹ Khanh, chúng tôi trân trọng gửi tới độc giả bài “Cha tôi: Ông Phan Khôi” như là một trong “chứng từ gốc” về con người đời thường, con người tư tưởng… của Phan Khôi – nhìn từ một khoảng cách gần. Bài báo đã được đăng trên tạp chí Phổ Thông số 29 ra ngày 1.3.1960 và số 30 ra ngày15.3.1960, với lời dẫn của nhà thơ, chủ bút Nguyễn Vỹ. (Mai Vũ sưu tầm và giới thiệu)
Bà Phan Thị Mỹ Khanh là con gái của ông Phan Khôi, hồi thiếu thời được ông cưng nhất. Hiện nay bà sống nơi đồng áng, ở thôn Kỳ Lý, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Trong bài ký ức sau đây, bà Phan Thị Mỹ Khanh ghi chép lại cả một thời dĩ vãng mà bà được sống bên cạnh ông Thân sinh, trong đó bà nhận xét rất vô tư và đầy đủ về tính tình và nhân cách của nhà Văn nho ấy.Chúng tôi xin thành thật cảm ơn bà Phan Thị Mỹ Khanh đã gửi tài liệu rất có giá trị này cho tạp chí Phổ thông.- Nguyễn Vỹ.

Tôi chỉ sống gần Thầy tôi (chúng tôi quen gọi cha bằng thầy) trong quãng thời gian mười một năm thôi, nhưng trong trí tôi giờ đây còn ghi không biết bao nhiêu kỷ niệm, là hình ảnh của người yêu kính đã lặng ngủ bên bờ kia vĩ tuyến.
Tôi bắt đầu biết thầy tôi từ năm tôi đúng sáu tuổi. Không phải là từ năm sinh tôi ra đến năm ấy, Thầy tôi không bao giờ về nhà đâu, nhưng vì tôi còn bé quá mà mỗi năm Thầy tôi chỉ về ít hôm trong dịp Tết Nguyên đán rồi lại ra đi. Trí óc non nớt của tôi lúc bấy giờ không đủ nhớ một cách vội vàng dù chỉ là hình ảnh một người cha. Vì thế, năm tôi đúng sáu tuổi, tôi mới bắt đầu sống chung với người đã có công như núi Thái Sơn sinh ra tôi, và cũng bắt đầu từ đấy, tôi biết thế nào là tình cha con, dù cái biết ấy chỉ trong phạm vi một đứa trẻ.
Năm ấy là năm 1933, Thầy tôi đương làm cho tờ Phụ nữ Tân văn ở Sài Gòn với ông bà Nguyễn Đức Nhuận. Tôi không biết rõ về công việc của Thầy tôi lúc ấy trong tòa soạn là gì nữa, trợ bút hay chủ bút tôi cũng chẳng biết phân biệt, nên chỉ dùng một động từ rất mơ hồ là “làm báo”. Thể theo lời một bức thư Thầy tôi gởi về nhà, tháng sáu năm ấy ông nội tôi cho phép Mẹ tôi đem các con vào Sài Gòn “du lịch” một chuyến. Hồi ấy, chúng tôi cả thảy là bảy anh chị em nhưng chỉ đi theo Mẹ tôi có năm, còn ở lại hai.  Trong số năm người con được đi theo chuyến ấy, có tôi. Đến đây tôi phải nói thêm rằng trong các con, cả trai lẫn gái, hình như bao giờ thầy tôi cũng thương yêu tôi nhất. Điều ấy về sau này khi lớn lên tôi mới nhận thấy nhưng không hiểu rõ duyên cớ cho lắm. Tôi không phải là bé út, vì sau tôi, còn hai đứa em nữa. Về học hành và hạnh kiểm, tôi cũng chẳng có gì là vượt mức các anh chị em tôi. Nhưng cái điều mà người nhà quê hay nói, có lẽ đúng là tôi “hạp nhãn” với Thầy tôi.
Chúng tôi ở Sài Gòn chơi được vài mươi ngày thì phải lo thu xếp trở về Quảng Nam, vì ở nhà còn có ông tôi già yếu không ai săn sóc. Trong khoảng thời gian ngắn ở Sài Gòn, Thầy tôi đã đưa chúng tôi đi xem các nơi thắng cảnh của “Hòn ngọc Viễn đông” thời bấy giờ mà nay tôi còn nhớ mãi là Vườn Bách thú và hãng Charner. Lại còn đi ăn chả cá, đi Hóc Môn thăm vị lương y Nguyễn An Cư nữa.
Mạ tôi trở về Quảng với ba con, còn hai được ở lại với Thầy tôi: tôi và một người chị, lúc bấy giờ mới mười một tuổi. Tôi còn quên kể ở đoạn trên là trong chuyến đi ấy, Mạ tôi dẫn vào cho Thầy tôi một người đàn bà với địa vị là nâng khăn sửa tráp cho Thầy tôi những khi người sống một mình nơi đất khách. Sau nầy, theo tôi biết đó là do lời yêu cầu của Thầy tôi. Thế là hai chị em tôi ở lại Sài Gòn với bà “dì Sáu” mới lạ ấy. Nhưng rồi một tháng sau, dì cũng cuốn gói về Quảng vì dì đã không vừa ý Thầy tôi từ dung nhan cho đến lối cư xử. Nghe đâu dì ấy về có tìm đến Mạ tôi khóc lóc, trình bày sự lạnh nhạt của Thầy tôi và xin rút lui về xứ.
Thế là chỉ còn tôi và chị N. Chị tuy còn bé thế mà đã tỏ ra đảm đang như người lớn. Hồi ấy ba cha con ở một căn nhà kế chợ Tân Định. Nhà ở lùi vào trong, đi qua phố phải qua một cái cổng dài. Chị N, mỗi bữa đi chợ rồi về nhà tự nấu nướng lấy, thế mà cơm hôm nào cũng được Thầy tôi khen ngon. Ngày hai buổi, Thầy tôi đến tòa Báo, chị em tôi ở nhà quấn quýt lấy nhau. Chỉ đêm đêm, khi Thầy tôi ngồi bên cạnh bàn đèn, chị tôi thích cánh tôi, hối tôi, tôi mới rón rén đến bên, vòng tay rụt rè thưa: “Thưa thầy cho con và chị N ra phố chơi một chút”. Lần nào Thầy tôi cũng ừ một tiếng to. Cái tiếng ừ ấy, đến bây giờ tôi vẫn còn nghe rõ bên tai, lúc nào cũng đi theo một cử động riêng biệt của Thầy tôi, hoặc đang nằm lấy hai tay vòng dưới gối cất mạnh người ngồi dậy, hoặc với tay lấy bát nước chè uống vài hớp. Thế là chúng tôi đi chơi. Nói là đi chơi phố cho oai, chứ thật ra chỉ luẩn quẩn cách nhà vài chục bước rồi lại vào vì chúng tôi bấy giờ ngớ nghếch, nhà quê chúa. Có một đêm, nghe hàng phố bảo đêm Noel, chúng tôi theo họ đi quá xa một chút. Đến trước một nhà thờ, tôi cũng không biết là nhà thờ nào, chúng tôi mãi say mê nhìn muôn ánh đèn rực rỡ hình như gẳn cả xung quanh ngôi nhà ấy, từ dưới đất lên nóc, nên quên cả về. Lúc đã về đến trước cửa, chúng tôi rụt rè mãi, vì Thầy tôi tuy thương con nhưng nghiêm khắc lắm. May sao, Thầy tôi chỉ hỏi: “Tại sao hai con đi lâu hơn mọi hôm?”. Tôi có lý do, trả lời ngay: “Dạ, bữa ni Noel”. Thầy tôi “à” một tiếng. Rồi thôi. Tính Thầy tôi vẫn ít nói chuyện thân mật với con, do đó lúc nào chúng tôi cũng hình như sợ hãi khi phải tiếp xúc với người. Giọng nói của Thầy tôi lúc nào cũng to, sang sảng và oai nghiêm. Tôi ít thấy ở môi người thốt ra một câu bông đùa, dù là với con nhỏ. Thầy tôi thẳng thắn, thường la rầy bất cứ một ai không vừa ý người, chẳng nể nang, vị tình vị nghĩa ai cả. Cái tính ấy, chính chúng tôi làm con, gặp sự bộc lộ nhiều hơn cả và khi chung sống với Thầy tôi, chúng tôi có cảm tưởng mình đương bị đày ải trong một nơi khắc khổ lắm. Nhưng đó là ý nghĩ thời thơ ấu. Sau nầy, riêng tôi, tôi rất cảm phục Thầy tôi. Mà than ôi, khi hồn non này biết suy xét điều hay lẽ phải thì đã không được cùng người gần gũi, và nay người đã an giấc ngàn thu, tôi còn bao giờ được thấy sự khắc khổ ấy để mà cảm phục nữa!

Ngược lại, cũng có lúc Thầy tôi dịu dàng. Một hôm tôi được người cho phép cùng đến tòa soạn chơi. Thầy tôi làm việc phòng trên gác nên tôi cũng theo lên. Bàn Thầy tôi ngồi giữa, chung quanh có kê hai dãy bàn giấy.
Thình lình, tôi ngồi giữa sàn gác mà đi tiểu tự nhiên như ở dưới đất. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy hồi đó tôi không biết mắc cỡ và còn dại hơn trẻ con bây giờ nhiều. Tôi dại vì tôi không biết hỏi người lớn dẫn đi, vì lần đầu tiên lên trên lầu một tòa Báo, tôi cứ luýnh quýnh tìm không ra nẻo xuống để đi tiểu tiện. Bà chủ nhiệm nhìn tôi mà cười xòa. Thầy tôi cũng cười mà bảo tôi: “Chà, con làm ướt nhà bà rồi!”. Thế rồi thôi.  Về nhà, tôi cũng không hề bị la mắng gì nữa. Có lẽ vì tại tôi bé quá cũng nên.
Tết năm ấy, Thầy tôi đem chúng tôi về Quảng.
Tháng mười một năm sau, tức là năm 1934, cô tôi đưa tôi ra Hà Nội vì bấy giờ Thầy tôi viết cho tờ Phụ Nữ Thời Đàm. Thế là lần này, tôi lại được hưởng “đặc ân”  sống với Thầy tôi tại Hà thành hoa lệ. Khi mới ra, Thầy tôi còn ở chung một nhà với cô tôi, là bà Lê Dư (mẹ vợ Vũ Ngọc Phan), nhưng sau lại thuê riêng một ngôi nhà bên cạnh, cũng ở phố Hàng Bông vì có thêm anh cả tôi ở học, và một người Quảng nấu ăn cho ba cha con. Ăn Tết tại Hà Nội xong, tôi được đi học vỡ lòng tại trường tư thục Hoài Đức. Tôi đi học như thế, lấy làm vui, vì ở nhà không có bạn, Thầy tôi thì nghiêm nghị, anh cả tôi thì trầm tĩnh, ít nói. Cả ngày, nếu tôi không sang chơi với con cô tôi thì lại lủi thủi với chú Ba, người Quảng làm bếp nấu ăn cho Thầy tôi. Thanh niên cũng ít người có tính tình như anh cả tôi. Anh ít nói, ít cười đến nỗi Thầy tôi cũng phải kêu. Nhìn anh, lắm khi cũng khó biết anh đương vui hay buồn, nhưng thực ra, anh tôi hiền lắm. Chúng tôi, đứa nào cũng mến anh vì không khi nào anh la rầy đánh mắng em. Nhưng giữa cha con có không khí lạnh lùng, một phần cũng vì tính tình của anh. Một hôm, ăn cơm xong Thầy tôi bảo: “Con sao lạ quá, nó đối với mình như người dưng. Hễ mình thấy nó ăn không được cơm thì hỏi han săn sóc nó, còn nó thấy mình thế nào cũng mặc kệ”. Thế mà anh cũng chẳng nói chẳng rằng, thật đúng với cái danh hiệu “Phật” mà chúng tôi đã tặng cho anh vậy.
Trước khi tôi ra Hà Nội, Thầy tôi có kết duyên với một cô ả đào xóm Khâm Thiên, sau nầy thành vợ lẽ của Thầy tôi thật sự cho đến bây giờ. Thỉnh thoảng, vào buổi chiều, người thường cùng tôi đi xe tay xuống Khâm Thiên nói chuyện, nghe đàn hát rồi về. Cuộc tình duyên ấy cứ như thế kéo dài mãi cho đến năm 1935, Thầy tôi mới đưa dì ấy ra mắt Mạ tôi và gia đình.
Tôi đương ở Hà Nội, thì vào khoảng tháng 4 năm 1934, có giây thép ở nhà quê báo tin ông nội tôi đau nặng. Thế là Thầy tôi thu xếp về Quảng, đồng thời cũng thôi giúp cho tờ P.N.T.Đ. Thầy tôi về nhà được mươi hôm, ông tôi vì mắc bệnh ung thư khó chữa, từ trần vào ngày 12- 4 -1934.
Năm 1934, Thầy tôi viết cho tờ Tràng An tại Huế. Lần này, tôi cũng có được ở với Thầy tôi, song chỉ trong thời gian non hai tháng, vì tôi đương học lớp tư tại quê nhà, dịp tôi ra Huế là dịp nghỉ hè. Nhà ở phố Gia Hội, thuê của vợ chồng ông chủ cũng tên Hội. Nhà ngăn làm hai: bên kia vợ chồng ông Hội và mấy ông công chức còn trẻ tuổi; bên nầy, Thầy tôi, dì tôi và tôi. Một hôm, Thầy tôi vắng nhà, bà Hội sang rủ tôi đi chơi về một miền quê hình như là An Cựu thì phải. Tôi thích quá, nói với dì tôi rồi ra đi lòng hân hoan vì được dạo chơi đây đó. Nhưng chiều đến, về nhà là cả một sự sợ hãi. Thầy tôi gọi lên bên cạnh bàn đèn, bắt quỳ vì tội đi chơi lung lạc, không xin phép. Tôi ứa nước mắt mà không dám khóc, vừa quỳ vừa cúi đầu, không hề ngước mặt lên nhìn trộm Thầy tôi. Một chốc, có tiếng Thầy tôi nói như truyền lệnh: “Thôi, Thầy tha cho đó!”. Tôi đứng dậy, rón rén lủi xuống bếp.
Năm 1936, Thầy tôi sáng lập tờ Sông Hương. Tôi vì đương bận theo học trường quê nhà thành ra chưa có dịp trở lại Huế mà Sông Hương đã chết. Thầy tôi lại thu xếp về quê, tạm lánh cuộc đời bôn tẩu với nợ văn chương, sống như một kẻ ẩn sĩ. Nhưng rồi cái chân hay đi không dừng một chỗ được, khi nó còn muốn đi nữa. Thầy tôi lại là giáo sư Việt Văn cho trường Chấn Thanh Sài Gòn, cho đến năm 1941, khi rục rịch phong trào Nhật, người mới lại về quê nhà. Lần này bà dì người Bắc của tôi sinh được em trai đầu lòng của dì mà là con thứ chín của Thầy tôi.
Từ đây, Thầy tôi bắt đầu sống gần gũi chúng tôi hơn cả. Tôi có dịp tiếp xúc người, hiểu người nhiều hơn  để ngày nay có thể ngồi viết nên trang ký ức nầy. Chao ôi! Tôi muốn kêu to lên rằng: “Thầy ơi, con muốn sống trở lại thời xưa cũ”.

Năm 1942, sau khi học xong lớp đệ nhị ban Trung học,  tôi từ giã ghế nhà trường vì nền kinh tế gia đình không vững nữa. Tôi tuy còn luyến tiếc sự học song bản tính rụt rè, lại từ lâu uốn nắn trong khuôn khổ giáo dục nghiêm khắc của Thầy tôi, nên không dám tỏ bày ý kiến của mình, chỉ biết cúi đầu vâng dạ xuôi mà thôi.
Một hôm, Thầy tôi bảo chúng tôi – tôi và một đứa em gái vừa đỗ Tiểu học – phải học một ít Hán văn nữa. Thầy tôi nói: “Nhà ta vốn thanh bạch, Thầy chẳng có gì để lại làm vốn cho các con sau nầy, chỉ muốn đem một ít chữ nghĩa dạy các con thôi, vì chữ nghĩa sẽ giúp các con nhiều về sau, nhất là chữ Hán”. Em tôi nghĩ gì, tôi không biết, chứ riêng tôi,  tôi cho đó là một dịp may hiếm có lắm và là một điều thích thú nhất vì chí ham học sẵn có của tôi. Hồi ấy tuy đã mười sáu tuổi, cái tuổi cập kê, đáng lý ra tôi phải học ăn học nói, học gói học mở, theo nề nếp con gái nhà nho giáo để rồi về làm dâu thiên hạ, trái lại tôi rất chểnh mảng vấn đề trên, mà chỉ thích xem sách, báo, tiểu thuyết. Cả truyện kiếm hiệp tôi cũng chẳng từ. Tôi ham mê nhiều khi quên cả công việc trong bếp, quên cả ăn nữa, Thầy tôi chẳng hề mắng tôi điều ấy. Duy có Mạ tôi và các chị thỉnh thoảng cũng “chỉnh” tôi vì cái lý do rất dễ hiểu là do tôi hư hỏng, sau này về nhà người ta làm dâu thì rầy rà lắm.
Vì vậy, “được lời như cởi tấm lòng”, tôi hăng hái cứ đêm đêm (Thầy tôi chỉ dạy ban đêm, ban ngày thì giờ chúng tôi bận dệt vải) ngồi một bên bộ ván, cạnh khay đèn thuốc phiện, nghe Thầy tôi giảng giải. Phương pháp dạy của Thầy tôi rất giản dị: người viết bằng ngòi bút sắt vào những trang vở giấy Tây một bài học, rồi bắt chúng tôi đọc theo và sau cùng người cắt nghĩa từng chữ rồi từng câu.
Trong khi dạy chúng tôi người chỉ dùng cái miệng còn hay tay chỉ để dùng vào cái việc cần thiết của người: lúc thì đưa mũi tiêm lên ngọn đèn, lúc thì lăn lăn nó nhanh thoăn thoắt trên cái mặt tẩu. Nhưng lúc người quay cái đầu dọc tẩu vào miệng và cái tiếng ro ro trầm buồn đang kéo dài, là tiếng nói người hoàn toàn im hẳn. Chúng tôi cũng lặng im, đợi cái phút mà từ hai lỗ mũi người bay ra hai làn khói xanh quyện vào nhau rồi tản mác trên không, người bắt đầu giảng tiếp. Các cử động của người vẫn được tôi say mê nhìn như thế trong hàng giờ đã từ lâu lắm, nên mãi đến ngày nay có gần hai mươi năm qua, tôi vẫn hình dung được.
Đầu tiên, Thầy tôi dạy bộ “Tân quốc văn” của Tàu, rồi Tam tự Kinh, Châu Bá Lư trị gia cách ngôn, các bài thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị… tôi thích nhất là khi giảng nghĩa, rồi Thầy tôi bắt đầu ngâm lại toàn bài những bài thơ hay ho ấy. Không hiểu sao, tôi mê những câu:

Thục giang thủy bích Thục sơn thanh,
Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình;
Và:
Oan ương ngõa lãnh sương hoa trọng
Phỉ thúy khâm hàn thùy giữ cọng

(trong bài Trường hận ca)

tả nỗi tâm sự của Đường Minh Hoàng nhớ nàng Dương Quý Phi.
Thấy chúng tôi chăm và chóng kết quả, Thầy tôi rất bằng lòng. Nhưng tiếc thay ước vọng của con người và chí nguyện của tôi nửa chừng đành bỏ dở vì lúc sau nầy người cai thuốc phiện và bị đau ốm luôn trong mấy tháng trời, không còn đủ sức dậy nữa. Rồi hai năm qua, vâng lời Thầy tôi, tôi xuất giá. Thế là hết. Hồi tưởng lại việc ngày xưa, tôi thấy tôi đã yếu ớt và dại dột vô cùng. Tại sao với một người cha chú trọng đến tương lai con cái như Thầy tôi – chúng tôi nghĩ thế – đã khiến chúng tôi nên rụt rè, sợ hãi khi phải trình bày một điều gì khác ý kiến người.
Trong những ngày lui về ở quê nhà, cuộc đời của Thầy tôi phẳng lặng như giòng sông nhỏ, trầm buồn như tiếng ro ro khi người kéo một hơi thuốc phiên. Nếu lâu lâu không xảy ra những vụ ghen tuông nho nhỏ giữa Mạ và dì tôi, thì quả là Thầy tôi chẳng bận tâm đến việc vợ con chút nào. Sáng ra, Thầy tôi dậy muộn, ít khi dùng điểm tâm. Rồi người nằm bên bàn đèn, làm bạn với nàng Tiên mãi cho đến bữa cơm trưa. Buổi chiều, người nằm xem sách – bao giờ cũng nằm mà xem – những quyển sách chữ nho chữ nhỏ li ti dầy khít hàng. Gần tối, mỏi mắt, người đi dạo ra vườn săn sóc vài cây mới trồng hay một chậu hoa vừa ra nụ. Thầy tôi không sành chơi hoa trồng kiểng nhưng cũng thích tìm một vài giống hoa lạ. Năm ở Huế về, Thầy tôi đem về hoa quỳnh và hoa phong lan. Cây quỳnh trồng bằng một cái lá và hoa thì lại nứt ở chỗ nách lá, khởi đầu bằng một cái cuộn thòng xuống rồi lớn dần cho đến lúc nở. Hoa nở về đêm màu trắng nuột, mùi hương tỏa ra ngây ngất nhưng chỉ trong một giờ là tàn. Người phong lưu thường đặt dạ tiệc để mời khách xem quỳnh nở. Hoa phong lan không trồng dưới đất, hình nó gồm một mớ giây, rễ, lá cuộn tròn và treo lên cao (giàn thiên lý, giàn hoa trước cửa,v.v …). Hoa phong lan trắng, nhỏ và thơm nhẹ nhàng.
Ban đêm, Thầy tôi thức khuya lắm, có khi đến ba, bốn giờ sáng. Bên ngọn đèn hút nhỏ bé, lù mù, Thầy tôi chăm chú xem sách không biết mệt. Thầy tôi thức khuya, đến nỗi thời thơ ấu tôi có cái tư tưởng ỷ lại nầy: Thầy tôi mà ở nhà là không bao giờ có kẻ trộm vào được, ngủ cứ tự do bỏ ngỏ các cửa. Mà dù cả nhà còn thức, bao giờ Thầy tôi cũng chỉ có một mình, nếu thêm một đứa con đứng hay ngồi tiếp chuyện, bao giờ cũng chỉ là tôi. Vì hình như đối với các anh chị lớn hơn tôi, sự lạnh lùng cách biệt giữa cha con đã thành thói quen từ lâu. Tôi thấy sự đó ít xảy ra trong các gia đình khác. Thầy tôi từ lâu nhận biết và tỏ rõ nỗi bực mình nhưng tình trạng không bao giờ thay đổi. Có nhiều đêm mẹ con quây quần vui vẻ ở nhà ngang, trong khi Thầy tôi một mình bạn với khay đèn chơi vơi giữa ngôi nhà rộng lớn và vắng lặng. Mạ chúng tôi vốn hiền từ, dễ dãi và khoan hồng nên bao giờ câu chuyện của chúng tôi cũng được tự do mà nở như bắp rang, chuyện tào lao gồm đủ loại, nói tóm lại chuyện của tuổi trẻ! (cố nhiên là không mất giáo dục). Đến một đoạn thích thú, chúng tôi lại phá nên cười. Tiếng cười vang lọt vào tai Thầy tôi. Người cất tiếng: “Tám ơi, chuyện chi mà cười dữ rứa, nói lại cho Thầy nghe thử coi!”. Mặc dầu người cố lấy giọng dịu dàng, mọi tiếng cười im bặt. Khó quá, biết làm sao, chuyện bâng quơ của ba đứa trẻ ranh mà kể lại cho người nghe sao được. Chị tôi đẩy tôi đi: “Mau lên, lên thưa lại với Thầy. Không thì bị la cả bọn chừ!”. Bao giờ cũng đẩy tôi, vì con Tám, em tôi nó chưa biết trả lời; mấy chị tôi bao giờ cũng cứ chuồn với đẩy là giỏi. Chị Tư tôi hay dỗ tôi: “Thầy không la em đâu”. Giá hồi đó tôi đủ lý luận thì tôi đã chất vấn các chị tôi về khoản đó rồi. Tôi bèn rón rén bước lên, sửa cái bộ mặt tỉnh táo mà hỏi lại : “Dạ, Thầy kêu con?”. Người lặp lại câu hỏi khi nãy. Tôi vội vàng thưa: “Dạ, có chi đâu mà vui”. Tức thì người nổi trận lôi đình, đập tay lên ván: “Không có sao được! Thiệt tao tứcc quá, mới nghe cười đó mà!”. Rồi người lại hạ giọng xuống, ôn tồn và giọng nhỏ nhẹ hơn: “Bận sau đừng có rứa nữa nghe con!”. Thế là tôi phải ngồi luôn bên cạnh Thầy tôi mà bầu bạn cho đến lúc đôi mắt mỏi dần và ngáp dài ngáp vắn…
Lâu lâu lại tái diễn cái tấn tuồng ấy mà lần nào tôi cũng làm kẻ ngoại giao cho mấy chị tôi.
Thầy tôi không có óc mê tín dị đoan mà trái lại còn ghét cơ ghét cực khoa nầy. Có lần Mạ tôi tin một ông thầy du phương cho dán mấy lá bùa hộ mệnh, cầu tài gì trong nhà không biết. Thầy tôi về thấy, bắt gỡ hết quăng đi. Một ông sui gia với Thầy tôi cũng thạo về khoa nầy. Thầy tôi thường nói: “Ổng giỏi ếm trừ, sao không làm cho nhà ổng giàu đi?”.
Phần đông người làng đều “chịu” cho tính khó chịu của Thầy tôi. Bởi thế rất ít khách đến chơi, chỉ thỉnh thoảng gặp kỳ tế lễ đôi ông đến bàn việc làng xã, họ đương. Các ông đến gặp Thầy tôi là… một sự cực chẳng đã, Thầy tôi tính nói thẳng, mà các ông phần nhiều thuộc về phái xôi thịt, đình đám phức tạp lắm.
Năm tôi mới độ lên mười, ông Thượng Trác (ông Nguyễn Bá Trạc) có vào chơi với Thầy tôi tại Bảo An vài lần. Lần nào ông cũng ở nói chuyện một ngày một đêm rồi mới về. Tôi còn bé, không hiểu hai ông thế nào, có tương đắc với nhau không, chỉ thấy câu chuyện ôn tồn, hòa thuận, không cãi lý và giận giữ. Nhưng khi khách về rồi, Thầy tôi chép miệng, nói một mình : – “Chán quá cho cái ông Trác, nói toàn chuyện quan trường!”. Thế là tôi mang máng hiểu rằng ông Trác không phải là bạn tâm giao của Thầy tôi vậy.
Trong làng có ông Tú, người cùng họ, gọi Thầy tôi bằng anh, thỉnh thoảng có việc cần cũng đến nhà tôi. Cái ông kể cũng gàn. Không bao giờ ông chịu ngồi mà nói chuyện, chỉ vòng tay đứng suốt câu chuyện rồi về. Có lần Thầy tôi phải đập mạnh tay trên ván, hét: “Mời chú ngồi! Tôi mời chú ngồi!”. Mà, lạ thay ông tú vẫn giữ mãi lập trường của ông. Kể ra, số người không vừa ý Thầy tôi cũng nhiều, không vì điểm này cũng vì điểm nọ. Nhưng cái điểm mà Thầy tôi hay “chỉnh” nhất là văn phạm trong câu nói. Người nhà quê miền Trung hay dùng tiếng “ổng”, “bả” để chỉ cha mẹ lúc vắng mặt. Và khi hỏi họ một việc gì mà họ không rõ, họ đáp cụt ngủn: “Biết chi!”. Thầy tôi luôn luôn dạy con cháu trong nhà tránh những tiếng nói vô lễ ấy và nếu nghe ai nói, cũng mạnh dạn sửa chữa họ.
Tôi chỉ thấy có một người vừa ý Thầy tôi là chú H.P. Thường đến nhà học thêm chữ Nho vói Thầy tôi mỗi buổi chiều, trong khoảng năm tôi mười sáu tuổi. Chú người ở Xuân  Đài, cháu cụ cố Hoàng Diệu và có họ ngoại với Thầy tôi[1]. Tôi vẫn nghe Thầy tôi khen về chú là thanh niên đứng đắn, thông minh và có chí.
Thầy tôi ít khi xem tiểu thuyết, truyện ngắn, của các nhà văn phái mới. Nhưng có một đêm, Thầy tôi bảo tôi ngồi bên bàn đèn mà đọc quyển Ngậm ngải tìm trầm của Thanh Tịnh. Đó là một tập sách gồm nhiều truyện ngắn. Sau khi tôi đọc hết truyện đầu, Thầy tôi bảo đọc tiếp chuyện thứ hai và cứ như thế cho đến khi xong toàn tập.Thầy tôi khen tác giả viết hay và hỏi tôi: “Con có biết hay chỗ nào không?”. Tôi nhớ bấy giờ tôi đương học lớp nhì, tuy đã bắt đầu yêu văn nhưng trình độ có bao nhiêu mà biết trả lời, đành thỏ thẻ thưa: “Dạ không”. Thầy tôi nói: “Truyện không làm người đọc chán, xem truyện nầy rồi muốn xem truyện khác, thế là hay!”.
Tôi về nhà chồng được ít lâu thì xảy ra cuộc đảo chính Nhật rồi tiếp đễn Việt Minh cướp chính quyền. Sau cuộc đảo chính 3- 1945, dì tôi sinh một bé trai em út nữa. Thầy tôi đặt tên thằng Lang Sa, kỷ niệm cái ngày Tây về xứ, sau 80 năm đô hộ dân tộc Việt.
Đối với chính quyền lâm thời của V.M bấy giờ, Thầy tôi lắm lúc bất bình. Thái độ bất bình ấy, khi thì biểu lộ bằng vài cái xì, xà, lẩm bẩm một mình của Thầy tôi, khi thì nổ bùng giữa đám đông quần chúng như nói chuyện về Hiệp định sơ bộ tại Vĩnh Điện. Kết quả cuộc nói chuyện nầy, Thầy tôi sinh lãng trí nói lảm nhảm luôn trong cả tuần, uống thuốc mới bớt.
Thế rồi, thình lình chúng tôi lại thấy Thầy tôi xách vali lên đường, từ giã vợ con nói là đi Hà Nội viết báo. Trong Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, tôi thấy tiểu sử Thầy tôi có nói chuyến đi nầy do ông Hồ Chí Minh triệu tập. Dạo ấy vào khoảng tháng 4 năm 1946. Tôi có ngờ đâu lần ra đi của Thầy tôi năm ấy đối với tôi là lần vĩnh biệt!
*
Đêm nay, một đên đầu xuân năm Canh Tý, tôi chong đèn ngồi viết mấy trang ký ức bên cạnh mấy đứa cháu bé đang say ngủ, lòng bâng khuâng nhớ lại những đêm xuân quãng 20 năm về trước. Và giờ đây, nơi chín suối đất Bắc, Thầy tôi có biết cho đứa con ở miền Trung nầy đương thành kính tưởng nhớ đến người cha  đã an giấc chốn tha hương? Chính ở Thầy tôi, tôi chịu ảnh hưởng sâu xa nhất về nền luân lý gia đình để có thể ngày nay tự hào rằng  không đến nỗi thua em kém chị về các bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ. Có vậy, ở bên kia thế giới, người mới hài lòng vì đã không uổng công đem mấy lời vàng ngọc mà giảng dạy chúng tôi thời thơ ấu.
Viết ở Kỳ Lý, một đêm xuân Canh Tý.    
PTMK.
Nguồn: Phổ thông bán nguyệt san. Sài Gòn. 1960.
______
[1] Bà Hoàng Thị Lệ, mẹ nhà văn Phan Khôi là con gái tổng đốc Hoàng Diệu.

http://www.trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=7143&catid=7

Nhà văn Lê Lựu: Kể chuyện “đi sứ” văn học đến Mỹ

Nhà văn Lê Lựu: Kể chuyện “đi sứ” văn học đến Mỹ
Trong khuôn khổ Hội thảo Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh (diễn ra từ ngày 28/5 đến 3/6), một nhân vật được cho là một trong những “sứ giả văn học đầu tiên” đưa văn học Việt sang Mỹ là nhà văn Lê Lựu không có mặt do sức khỏe không tốt.

Chiều muộn hôm qua, 30/5, đoàn nhà văn cựu binh Mỹ thuộc Trung tâm William Joiner (WJC) đã đến thăm nhà văn Lê Lựu tại nhà riêng vừa để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên, vừa để mời Lê Lựu đi Hòa Bình tham dự Hội thảo sẽ khai mạc vào sáng ngày 2/6 tới…

“Cứ liều mà đi”

Bắt đầu từ năm 1987, nhà thơ Kevin Bowen, Giám đốc Giám đốc Trung tâm William Joiner (WJC) đã chủ trương mời nhà văn Việt Nam sang và giới thiệu và giao lưu với Trung tâm.

Trước đó, ông ta đã từng sang Việt Nam, thăm lại chiến trường và thăm lại những nơi ông đã từng đến ở. Lúc đó, Kevin Bowen chưa hiểu nhiều về Việt Nam, nên những năm 1986 -1987, đạo diễn Hồ Quang Minh, sống ở Thụy Sỹ, đã được Kevin nhờ tìm và giới thiệu cho một số nhà văn cựu chiến binh (CCB) Việt Nam. Lúc đó, Hồ Quang Minh đang làm phim với Lê Lựu và cũng có những giao lưu với Ngụy Ngữ. Cuối cùng Hồ Quang Minh đã giới thiệu hai người này.

Nhà văn Lê Lựu (phải) đã khóc khi kể lại những kỷ niệm đi Mỹ, bên trái là Bruce Weigl, Kevin Bowen

Đây là hai người đầu tiên mở đường cho việc các nhà văn Việt sang Mỹ. Ngày đó, theo Kevin Bowen cho biết thì do những trục trặc trong việc cấp visa hạng công dân đầu tiên đã khiến cho hai nhà văn Việt Nam phải chờ ở Bangkok 3 tuần. Kevin đã rất nhiệt tình và mất rất nhiều công sức liên lạc với chính quyền Mỹ để việc làm thủ tục được thuận lợi và cuối cùng chỉ có Lê Lựu là có thể tiếp tục cuộc hành trình tới Mỹ.

Thời gian làm người lính của tôi ở VN đã thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi. Trước hết, nó đưa tôi ra khỏi cái vỏ mà tôi đã lớn lên giữa những người thuộc tầng lớp công nhân là gia đình tôi và các bạn bè tôi, nó buộc tôi phải làm quen với những nền văn hóa khác, và kiểu người khác, tất cả những điều đó khiến một người trở nên mạnh mẽ hơn và có lòng trắc ẩn hơn. Tôi không phải kiểu người điển hình để trở thành nhà văn. Đất nước VN, dân tộc VN và những trải nghiệm của tôi đã góp phần định hình nên con người tôi bây giờ. Tôi cảm thấy tôi là một người mạnh mẽ hơn và tốt hơn nhờ những trải nghiệm này và tôi cảm giác rằng VN luôn là 1 trong 2 đất nước của trái tim tôi (Nhà văn Bruce Weigl)

Nhà văn Lê Lựu kể lại: “Tôi không dự định gì cả mà cứ liều mà đi. Tiếng Anh tôi không biết, vé máy bay tôi không có. Khi có vé rồi, lên máy bay thì nó bay đi đâu, hạ sân bay nào mình cũng chả biết luôn. Anh Lê Mai mách nước cho tôi: “Bí quá thì ông cứ nói “help me!” (giúp tôi) thể nào cũng có người giúp!”. Tôi nghe lời anh Lê Mai cứ cầm vé nói “help me! help me!”… Khi máy bay hạ cánh, gặp một nhân viên của hãng hàng không Boeing tôi lại “help me!”. Người nhân viên này giúp tôi gọi điện cho anh Kevin sau đó anh ta bảo tôi cứ ngồi chờ rồi có người đến đón. Được hồi lâu, có một anh tên là Minh, người Việt Nam gọi điện lại hỏi tôi có phải là Lê Lựu không? Tôi được một người bạn bảo anh đi Mỹ chơi và tôi có nhiệm vụ phải hướng dẫn cho anh khi đi lại ở Mỹ. Thế rồi anh ta hướng dẫn tôi về Boston bằng cách bảo tôi ra cửa số 2 ngồi chờ chuyến bay tiếp theo để về Boston. Lúc đó mới 8 giờ sáng và tôi cứ hết đứng lên ngồi xuống, hết ăn bánh mì lại uống nước khoáng, vạ vật chờ đến 9 giờ tối để lên máy bay.

Những “kẻ thù xưa” dần thay đổi thái độ

Đến Boston, nhà văn Lê Lựu được Nguyễn Bá Chung, Kevin Bowen và một số người khác trong WJC ra đón và đưa về WJC. Trong một tháng tá túc ở WJC, nhà văn Lê Lựu đã làm… “tiêu hao kinh tế” của Trung tâm bằng việc đêm nào cũng gọi điện thoại đường dài về Thái Lan cho bạn bè, thời gian mỗi cuộc nhẩm ra cứ phải trên dưới một tiếng đồng hồ chứ chẳng vừa. Sau đó, biết Trung tâm còn nghèo vì chưa có nguồn tài trợ nhưng vẫn im lặng trả tiền điện thoại cho ông thì đâm ra áy náy lắm.

Bên cạnh kỷ niệm vui đó, nhà văn Lê Lựu còn có những kỷ niệm không thể nào quên mà mỗi khi nhắc lại ông không cầm nổi nước mắt. Ấy là trong một hội thảo về văn học do WJC tổ chức lần ấy có khoảng 50 người và theo như nhà văn Lê Lựu “điểm mặt” thì nhận ra trong số họ có “nhiều người là kẻ thù”. Suốt buổi diễn ra Hội thảo, ông bị “vây hãm” bằng những câu hỏi hằn học, giễu cợt rất khó chịu. Nhà văn Lê Lựu kể: “Có những câu hỏi tôi cho là rất châm chọc như: “Có muốn quan hệ với Mỹ không? Nếu muốn thì ông sang Mỹ để xin cái gì? Chúng tôi còn 41 xác người Mỹ nữa các anh để ở đâu? Nếu trả hết số xác lính Mỹ ấy thì đổi lại chúng tôi sẽ cho ông thóc”?!…

Chụp ảnh lưu niệm phía trước nhà Lê Lựu trước khi giã biệt

Thuật lại những câu giễu cợt này, nhà văn Lê Lựu lại úp tay lên mặt khóc. Nhà văn Bruce Weigl ngồi kế bên ôm Lê Lựu an ủi với một thái độ như là sự hối lỗi thay cho những người đã “xúc phạm ông” cách đây hơn 20 năm. Dừng hồi lâu, Lê Lựu lại kể: “Tôi đã trả lời rằng: Sao các anh nỡ xem thường người dân Việt Nam thế? Sao các anh ác thế? Sao lại đổi gạo để lấy xác đồng đội thế…?”.

Sau lần ấy, thái độ của một số người đã dần thay đổi. Các nhà văn của WJC liên hệ với các trung tâm văn hóa, các trường học xin cho Lê Lựu đến nói chuyện về văn học chiến tranh ở Việt Nam và hầu như không nơi nào từ chối. Kevin Bowen cho biết: “Ngày ấy, Lê Lựu mỗi ngày phải đi nói chuyện 3 ca mỗi ngày và thường mỗi ca khoảng 2-3 giờ đồng hồ. Tôi thấy Lê Lựu rất mệt nhưng nói chuyện thì hăng và rất nhiệt tình. Ông ấy làm chúng tôi mệt lây và tôi đã nói với ông ấy rằng: Ông đã thấy nỗi khổ của người nổi tiếng chưa? Ông đã thấy người Mỹ quý mến ông như thế nào chưa?

Khai thác tâm hồn con người Việt Nam sau chiến tranh

Đánh giá về vai trò của trung tâm WJC trong việc truyền bá văn học Việt Nam đến Mỹ trong suốt mấy chục năm qua nhằm tăng cường sự hiểu biết của công chúng Mỹ với con người và đất nước Việt Nam, nhà văn Lê Lựu bày tỏ: Sự bền bỉ của WJC, trong việc hàng năm vẫn tổ chức các cuộc hội thảo về văn học, văn hóa giữa các nhà văn, nhà thơ, các nhà làm văn hóa của hai nước đã giúp phần nào hóa giải những hận thù giữa hai dân tộc tiến tới một tương lai tốt đẹp.

Một việc làm của WJC khiến tôi rất xúc động là mặc dù văn học Việt Nam ở Mỹ được dịch rất ít nhưng bù lại WJC đã rất nỗ lực trong công tác tuyên truyền, quảng bá các tác phẩm văn học (dù ít ỏi) của Việt Nam vào các trường ĐH ở Mỹ. Tôi cho WJC đang tiến hành “khai thác tâm hồn con người Việt Nam sau chiến tranh” và văn học chính là cái cớ để họ từng ngày nỗ lực thực hiện mục đích cao cả ấy”!

“Tôi tin chắc rồi đây, văn chương VN sẽ xuất hiện ngày càng nhiều với độc giả Mỹ thông qua những bản dịch và sự quảng bá nhiệt tình của WJC. Tôi hy vọng sẽ được nhìn thấy ảnh hưởng của những tác phẩm đó với công chúng Mỹ về Việt Nam qua góc nhìn của người Việt. Qua đó, họ có thể mở rộng góc nhìn văn hóa của mình bằng cách học về một đất nước xa xôi mà từ trước cho đến nay và sau này nữa đã được gắn kết với nhau càng trở nên vững chắc” – nhà văn Lê Lựu khẳng định.
Theo Huy Thông (TT&VH)

http://phapluattp.vn/2010053103435197p1021c1087/nha-van-le-luu-ke-chuyen-di-su-van-hoc-den-my.htm

Nhà văn Lê Lựu: “Việc gì phải giấu, cái gì thiên hạ chả biết”

Nhà văn Lê Lựu hiện nay.
Nhà văn Lê Lựu: “Việc gì phải giấu, cái gì thiên hạ chả biết”
14:42:59 11/04/2010
“Một ngày tôi cứ vã 10 vốc thuốc như thế này, với lại hai lần tiêm nữa. Đã từ 2 năm nay rồi, cứ mỗi lần vào viện lại một lần yếu đi, khi ra viện rồi tập mãi mà sức khỏe cũng chả hồi lại được(…) Người mình cứ như cây khô đã kiệt nước rồi. Nhưng cũng phải ra được quyển sách thì mới thấy đời nó vui, chứ không thể đau ốm mà nằm gặm nhấm quá khứ được…” – nhà văn Lê Lựu tâm sự.

Có lẽ cả đời tôi sẽ bị ám ảnh bởi buổi chiều mưa phùn hôm đó tôi gặp ông – một nhà văn tên tuổi, danh tiếng cứ khóc ròng từ lúc gặp cho đến khi tôi về. Nói chuyện gì ông cũng khóc, nhắc đến người thầy – nhà văn Nguyễn Khải giờ đã xa lìa trần thế, hai hàng nước mắt ông ứa ra.

Nói chuyện ông làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân mới hiểu hết “nhân tình thế thái” ở đời, mới thấy cái sự lọc lừa bon chen ngoài xã hội khủng khiếp đến nhường nào, ông khóc vì không thể tưởng tượng ra được con người ta lại cư xử với nhau tàn tệ đến thế. Nhắc chuyện gia đình vợ con giờ như “dây đứt lìa đàn”, ông lại càng khóc.

Ôi! Trái tim nhỏ bé của một nhà văn đa cảm, nước mắt của ông còn nhiều hơn cả nước mưa. Cuộc đời của ông còn buồn hơn bầu trời đen, xám xịt ở ngoài kia…

Ông nằm ọp ẹp, ốm o trên cái giường nhỏ, chân co, chân duỗi, quần vắn lên đến tận đầu gối. Mái đầu bù xù của ông gác lên hai cái gối cũ, cuối giường, cô cháu gái đang xoa bóp chân cho ông. Ông đưa mắt nhìn tôi, thều thào: “Cứ thế này ta trò chuyện nhé…”. Nhưng được một lúc ông lại bảo tôi đỡ ông ngồi dậy. Câu chuyện đang chuẩn bị bắt đầu thì cô cháu gái giục cuống lên đã đến giờ ông uống thuốc. Trời ạ! Một vốc thuốc dễ đến 20 viên con nhộng ông bỏ hết một lần vào trong miệng, hớp một hớp nước là xong bằng đấy thuốc trôi tuột xuống mà chả biết thuốc đi về đâu nữa. Đã lâu rồi không gặp, ai ngờ ông lại đau ốm đến thế này…

Nhà văn Lê Lựu: Một ngày tôi cứ vã 10 vốc thuốc như thế này, với lại hai lần tiêm nữa. Đã từ 2 năm nay rồi, cứ mỗi lần vào viện lại một lần yếu đi, khi ra viện rồi tập mãi mà sức khỏe cũng chả hồi lại được. Tôi nhiều bệnh quá, nhũn não, tiểu đường, gút, tiền liệt tuyến, nhồi máu cơ tim, phổi, thận, gan, tụy… đủ hết, cứ động đến chỗ nào thì có bệnh ở chỗ đó. Người mình cứ như cây khô đã kiệt nước rồi. Nhưng cũng phải ra được quyển sách thì mới thấy đời nó vui, chứ không thể đau ốm mà nằm gặm nhấm quá khứ được… Nhà văn cứ như con trâu cày. Cả cuốn tiểu thuyết hay giống cuốn sách nó cứ như cánh đồng mênh mông không biết đâu là chân trời thì anh cày bao giờ cho hết. Cái anh nhà văn như con trâu kéo cày ấy, nên vất vả lắm.

PV: Ông ốm thế này thì làm sao lại vừa ra mắt tiểu thuyết “Thời loạn” đầu năm nay được nhỉ?!…

Nhà văn Lê Lựu: Tôi nằm trên giường bệnh trong bệnh viện đọc cho con cháu gái ở trung tâm này đánh máy thôi.

PV: Những năm gần đây ốm đau triền miên như vậy ông có cái nhìn bi quan về cuộc sống không?

Nhà văn Lê Lựu: Không đâu! Nhờ giời, tôi sống đến bây giờ đã là lãi rồi. Bao nhiêu người tài giỏi quanh mình như nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhà văn Tào Mạt, các anh đi xa cả rồi, đi từ lâu rồi, mình sống mãi có làm được gì đâu. Ngay kể cả đồng đội, những người cùng trang lứa ở chiến trường bây giờ đã chết vợi cả rồi. Nếu nhìn mình, phải nhìn sang ngang so với đồng đội, bạn bè đồng nghiệp thì thấy mình sống vô tích sự, sống thừa nhiều quá, mấy năm gần đây có viết được gì đâu. Viết được mỗi “Thời loạn” thôi. Mấy quyển sau này nữa, có những quyển chưa in được. Bây giờ có viết gì cũng không hơn ngày xưa nữa. Về già thì sâu hơn nhưng mà đâu còn sức nữa.

Ngày xưa quyển nào tôi viết thì chỉ trong vòng hai, ba tháng là xong vì mấy tháng trời đó thức suốt ngày đêm nghĩ cho tới cùng. Nhiều khi tôi ngồi từ 6 giờ sáng hôm nay đến 6 giờ sáng ngày mai chỉ để tìm ra một chữ. Tại tôi dốt chứ bây giờ có cái máy tìm hộ. Năm 1988, không dùng chữ “bâng khuâng”, chữ cũ rồi, gõ lên máy tính có hàng trăm chữ tương đương chọn chữ nào dùng thì dùng. Nhưng bấy giờ mình thộn, mình ngu có máy cũng không biết dùng thì mình dùng cái đầu cứ lần mò tìm chữ nào mình thấy ưng ý nhất…

PV: Sao cuốn tiểu thuyết ông lại lấy tên là “Thời loạn”?

Nhà văn Lê Lựu: Chiến tranh làm cho cuộc sống khổ cực, nhưng lòng người thanh thản vô tư lắm, đi chiến trường hy sinh mà lòng vẫn thanh thản. Bây giờ thời bình không có tiếng bom đạn nhưng ở trong lòng người loạn rồi, không có cái gì ổn định cả. Tâm con người ta nó cứ lộn nhào hết cả, không biết thế nào là phải, thế nào là trái. Tôi không hiểu sao con người bây giờ không tốt với nhau. Những năm trước khổ sở nhưng không thấy hết mặt trái của cơ chế thị trường. Tình cảm loạn, luật lệ lỏng, đối xử với nhau cũng loạn, có đời nào bố con chỉ vì cái chỗ ở mà đưa nhau đi kiện, nhìn nhau thấy tức rồi thì giết nhau. Đấy nó loạn ở chỗ đấy… Tôi cứ ngồi nghĩ vẩn vơ mà buồn, con người ta sống với nhau lại tàn ác thế nhỉ. Thế nhưng người hay buồn như thế lại thành người dở hơi. Cuộc sống thì cứ chảy đi… 

PV: Trong tiểu thuyết của ông, đàn bà và phụ nữ hiện ra rất rõ nét. Phải hiểu về phụ nữ lắm thì ông mới có những trang viết về phái đẹp như thế, giao tiếp ngoài cuộc sống ông có thể đọc vị được họ rất nhanh không?

Nhà văn Lê Lựu: Thầy tôi là nhà văn Nguyễn Khải (khóc)  ông ấy chết rồi. Ông ấy bảo “Anh nhà văn gặp nhân vật trong vòng 10 phút mà anh không phát hiện tính cách nhân vật thì thôi anh  không đi viết văn nữa”. Một con người có hàng chục tính cách. Có người chịu khó chăm chỉ, ki cóp rồi cũng có lúc chơi bời phóng túng, tử tế đấy nhưng lại cũng có lúc đểu cáng nhưng tính cách nào là tính cách chủ lực, thì phải phát hiện.

Có những cái phát hiện được, có những cái mượn kinh nghiệm của người khác. Không gặp được nhưng chỉ nghe tả thôi, thì tôi theo câu của các cụ. Thế này nhé, “Những đồ ti hí mắt lươn. Trai thì gian trá, gái luôn gạt người”. Hoặc “Gò má cao thì sát chồng”. Còn người “mắt trắng dã, môi thâm sì” thì sống vô tình bạc nghĩa, cứ dựa trên cơ sở ấy mà tôi bịa ra. Bịa mà bản thân người ta cũng thấy thật, người ta không biết được người ta làm cái việc đó lúc nào…

PV: Khi về già, con người ta hay hồi tưởng lại quá khứ, nhớ lại kỷ niệm buồn và đẹp  cứ ùa về và mình nhìn càng rõ rệt hơn…

Nhà văn Lê Lựu: Chuyện đấy thường xảy ra với người nhàn rỗi, ngồi một mình âm thầm nhớ quá khứ. Chứ tôi bận công, bận việc, già thì già nhưng vẫn cứ phải chạy theo cái nhịp sống này còn thì giờ đâu mà nhớ nữa. Bận trăm thứ công việc ở trung tâm này, vì đã đẻ nó ra thì phải nuôi. Trước có năm chục người, giờ tôi giảm chỉ còn trên dưới chục người. Nhưng chạy làm sao có lương cho người ta ăn, có điện cho người ta thắp, có máy cho người ta làm việc. Rồi trung tâm còn có mấy trăm hội viên… Hồi trước khỏe tôi đi giao dịch, gặp gỡ người ta rồi thì làm được việc này việc khác. Doanh nghiệp họ bỏ ra vài chục triệu góp với mình để làm, bây giờ cứ ngồi nhà thế này gọi điện vẫn cứ túc tắc đấy nhưng mà khó hơn…

Nhà văn Lê Lựu (ở giữa) và nhà văn Nguyễn Như Phong (bên phải) năm 1984.

PV: Người ta bảo nghiệp viết văn nó vận vào đời. Cuộc sống gia đình đau đời trên từng trang viết trong cuốn tiểu thuyết có vận vào đời ông không?

Nhà văn Lê Lựu (khóc nức nở): Tôi bị cái đấy nó vận vào người. Chính là “Sóng ở đáy sông”. Ông Đại chỉ yêu các con bà cả thôi, ghét các con bà hai, thế đến cuối cùng chết, ốm đau chỉ có con bà hai. Còn con bà cả đi hết sang Mỹ. Cái thằng Núi, con bà hai ông tẩy chay nhất cuối cùng nó lại nuôi ông ấy chứ. Ông ấy chết làm ma thì nó đứng ra chống gậy.

Tôi bị vận vào bà ở quê đấy, năm 10 tuổi người bé bằng cái kẹo tôi đã lấy vợ rồi. Đến tuổi đi bộ đội, Chi bộ Đảng bảo về yêu vợ mới kết nạp Đảng thế là về có được đứa con, xong tôi bỏ bê không nuôi nó. Còn bà trên thành phố này thì được hai đứa. Một thằng cu, một con bé. Tôi yêu thương chạy vạy cho con học khối D, không tính gì ốm đau, cứ mỗi đứa là 9 thầy dạy ngoài. Mà ngày xưa mỗi buổi dạy 1 đến 2 tiếng là hai chục nghìn. Hai chục nghìn ngày đấy bằng hai trăm nghìn bây giờ. Và con nó thi đỗ.

Cái con bé lớn bây giờ ra đi làm lương 30 triệu một tháng. Đến lúc tôi ốm đau nằm bệnh viện cái con bé Lượng mình bỏ ở quê nó đến chăm lo. Tôi thương nó lắm, hằng ngày làm việc xong tối nó đi 30 cây số lên chăm bố xong, sáng sớm hôm sau nó lại về. Suốt một tháng giời đi đi lại lại chăm bố trong viện. Còn mấy đứa con bà hai đến thì chỉ bàn bán nhà.

PV: Những gì trước đây ông tâm sự trên báo, sự thẳng thắn đến độ ngờ nghệch, sự cả tin và cả nỗi cô đơn buồn tủi làm độc giả rất thương cảm. Chắc bản thân ông cũng không muốn thế đâu vì nhà văn thường khí khái lắm?!…

Nhà văn Lê Lựu: Tôi cũng không muốn cứ đi sống bằng lòng thương hại, đến lúc hết lòng thương hại thì chết à, phải sống bằng cái mình có và cái mình phấn đấu. Thế cho nên rất cám ơn mọi người và độc giả. Con người ta có thế nào thì bộc lộ ra như thế không che giấu được.

Có người chê tôi tại sao lại đi nói chuyện nhà ra. Tôi bảo, việc gì phải giấu chứ, cái gì rồi thì thiên hạ người ta chả biết. Tôi và vợ tôi xin ly dị nhau, trước sau gì người ta cũng biết. Con tôi đứa nào như thế nào rồi người ta cũng biết chứ. Tôi chỉ buồn nỗi mình chỉ dồn hết tình cảm vào cho thằng con và nó đốt cháy hy vọng của mình. Tôi xin cho nó việc viết báo. Nó cứ làm một thời gian lại bỏ. Bỏ cả đến chục tòa soạn báo rồi, bây giờ vẫn lông bông, chả có nghề nghiệp gì cả, vẫn ăn tục nói phét.

Bao nhiêu tính xấu nhất của tôi nó nhận hết. Tính hay tán gẫu nó nhận. Cái mà tôi làm được, viết văn, thì nó không nhận. Ba tháng giời tôi không ngủ thức thâu đêm suốt sáng làm việc thì ba tháng giời nó không ngủ để đi uống rượu đến nỗi ngã xe máy, vỡ đầu, đổ cả “chậu máu” thế mà vẫn không chừa. Tôi thất vọng về những cái đó.

PV: Bây giờ ông có ao ước điều gì không?

Nhà văn Lê Lựu: Suốt đời tôi ao ước thèm một gia đình êm ấm. Mà gia đình tôi ngay cả lúc hai người yêu thương nhau nhất tôi lại bỏ nhà sang cơ quan để ngủ. Nhà và cơ quan cùng phố Lý Nam Đế, nhà số 8 còn cơ quan số 4, đi bộ mấy bước chân. Suốt  mấy chục năm trời đều thế cả!

PV: Tại sao lại thế?

Nhà văn Lê Lựu: Tại vì sống không hợp nhau, cãi nhau như mổ bò suốt ngày. Cứ bàn đến công việc gì là cãi nhau, chỉ được câu trước, câu sau là cãi nhau. Bàn đến nấu ăn cũng cãi nhau. Bàn đến đi chợ cũng cãi nhau. Bàn đến mua cái gì cũng cãi nhau. Dạy con cãi nhau. Cãi nhau suốt ngày nên tôi bảo, thôi sang cơ quan nằm.

PV: Ông là nhà văn có tiếng, đa tài đa nghệ, nên đàn bà con gái theo cũng là lẽ đương nhiên. Có khi nào ông ở riêng như thế để “muốn làm gì thì làm” không?

Nhà văn Lê Lựu: Làm gì có chuyện đó. Tôi sức khỏe yếu lắm, bạn bè ai cũng biết. Cứ hỏi Chu Lai, Đỗ Chu… Có khi do tôi yếu quá nên vợ cũng vì thế mà sinh chuyện. Thật ra, tôi nằm ở cơ quan có làm gì nhăng nhố, bố lếu bố láo thì đến ba chục người giám sát chứ ở nhà chỉ có 3 người thôi. Tôi mấy chục năm như thế chứ không có gì lăng nhăng…

PV: Cuộc sống như thế sao ông không ly hôn luôn đi cho rồi, để đến mãi tận bây giờ cho nó rích rắc ra. Mà ông đã ly hôn chưa hay mới chỉ là nghe người ta đồn thổi thế thôi?

Nhà văn Lê Lựu: Cách đây đã lâu lắm, hàng chục năm trước, vợ chồng tôi ra tòa một lần rồi, đã chia con cái rồi. Thằng cu Chiến về ở với tôi, còn con bé lớn ở với mẹ nó. Thằng cu ở với tôi được 3 năm thì vào một đêm khoảng 3 giờ sáng tôi đang ngồi viết, nó đang ngủ vục dậy khóc thét lên bảo: “Bố ơi bố, con lạy bố, bố cho con về với mẹ con”. Tôi sờ vào người nó nóng như hòn than, sốt đến 410, tôi lai con đi viện. Nuôi con trong viện, bà ấy cũng đến chăm con, tôi cũng đến đấy chăm. Hồi bé nó ngoan lắm, khôn lắm, sau một tháng trời nằm viện khỏi ốm, nó bảo: “Bố ơi! Bố về ăn cơm với mẹ con con”. Thế là lại đi về ở với nhau. Độ vài năm không chịu được tôi lại đi.

Chính cái hôm mới đây, hồi tháng 12 vừa rồi, tôi đang ở trong viện, bà ấy vào đưa giấy ly hôn viết sẵn cho tôi ký. Không biết bà ấy viết để làm gì, tôi đã ký vào rồi. Nhưng 3, 4 tháng nay chả thấy tòa gọi gì cả. Cái đơn tôi ký bà ấy để đâu hay bà ấy giữ lấy để làm cái gì ấy. Có lẽ cái đơn ấy bà có cái cớ để khi mình ốm đau bà ấy không chăm nom. Mình có chết bà ấy không ma chay gì cả, coi như là đã ly dị rồi.  Cách đây 1 tháng chính tôi lại làm đơn mang ra tòa…

PV: Ông làm thế để làm gì khi năm nay ông đã 69 tuổi?

Nhà văn Lê Lựu: Làm thế để cho nó giải phóng tư tưởng, khỏi mang tiếng là có vợ con mà ốm đau không có ai chăm nom, săn sóc… Sau này sẽ cậy nhờ bệnh viện và các cháu ở trong trung tâm đây…

Nói rồi ông lại ôm mặt khóc nức nở, tôi chả biết nói gì cứ luống ca luống cuống… Đời người buồn thế đấy!

Trần Mỹ Hiền – ANTG 948

http://www.cand.com.vn/vi-VN/nguoinoitieng/2010/4/128947.cand

Nhà văn Lê Lựu: Cái Tết buồn nhất trong đời người

Nhà văn Lê Lựu

Có lẽ năm nay nhà văn Lê Lựu sẽ đón một cái tết buồn nhất trong cuộc đời của mình. Tôi nói điều đó với ông trong buổi chiều cuối năm khi mang bản thảo đến cùng ông ngồi đọc lại lần cuối trước khi in. Lê Lựu đọc một mạch, không sửa dòng nào, nhưng ông lại khóc, nước mắt chảy ràn rụa…

Tôi không hề có ý định viết một bài viết buồn hơn những gì tôi đã viết về nhà văn Lê Lựu. Năm hết Tết đến, trở lại với những nhân vật ấn tượng của mình trong năm, tôi ghé thăm Lê Lựu, ý định nghe Lê Lựu kể một vài chuyện hài hước bông lơn vui vẻ như cái chuyện “ngửi tất” năm nào của ông để hầu bạn đọc nhân dịp Tết. Và cũng để hỏi thăm nhà văn nổi tiếng của chúng ta vừa sinh hạ đứa con tinh thần mới: tiểu thuyết “Thời loạn” một cách lặng lẽ và ít chú ý hơn những lần có tác phẩm mới trước đây. Nhưng đến gặp nhà văn Lê Lựu rồi, những câu chữ thốt viết ra, không tránh được một nỗi buồn trĩu bút.

Nhà văn Lê Lựu vừa bị tai biến mạch máu não lần ba. Thật buồn và tai hại biết bao khi lần tai biến này lại xảy ra vào dịp cuối năm, khi cái tết đang đến gần. Lần tai biến này, nhà văn Lê Lựu xem ra yếu hẳn, đi lại đã khó khăn lại càng khó khăn hơn và hầu như phải có người dìu từng bước. Tôi cũng không hình dung nổi, sức khỏe của Lê Lựu sau mỗi một lần gặp là mỗi lần xuống dốc trông thấy.

Kể từ khi nhà văn Lê Lựu rẽ bước sang ngang, tạm gác nghề văn chương để đi làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân thì gần như đều đặn năm nào tôi cũng ghé thăm ông, để ghi lại những khoảnh khắc Lê Lựu trong bức chân dung Giám đốc văn hóa doanh nhân. Có lẽ chỉ duy nhất trong một năm đầu tiên sau khi thành lập Trung tâm và giữ cương vị mới, tôi thấy Lê Lựu phấn khích, hào sảng, hỉ hả, và say sưa kể về công việc mới, dự án, dự định và bao nhiêu viễn cảnh huy hoàng của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân. Khoảnh khắc đó qua đi thật nhanh, mỗi một năm trôi qua tôi nhìn thấy tóc Lê Lựu thưa nhanh hơn, bạc nhanh hơn, nụ cười vụt tắt nhanh hơn, vẹo vọ đi trong một nỗi buồn chợt đến. Sức khỏe của ông ngày một xuống dốc, ọp ẹp, mệt mỏi, kiệt sức hơn với cái gánh nặng mà ông mang vác trên vai. (Thực lòng xin lỗi nhà văn Lê Lựu nếu ông cảm thấy buồn khi đọc những dòng này, bởi đó là cảm giác có thực đeo đẳng trong tôi mỗi khi đến thăm ông).

Trong ba năm gần đây, nhà văn Lê Lựu liên tục bị tai biến mạch máu não. Lần nặng, lần nhẹ, lần vào viện muộn, lần cấp cứu kịp thời, nhưng xét cho cùng, lần nào cũng để lại di chứng nặng nề cho sức khỏe.

Tôi nhớ, lần tai biến đầu tiên, tôi vào thăm ông ở Viện 108, ông vẫn đeo máy xông, vẫn hai tay hai điện thoại, liên tục chỉ đạo công việc từ xa. Cảm giác lúc đó, nhà văn Lê Lựu coi thường bệnh tật, hoặc giả không hình dung nổi những di chứng nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng mỗi khi bị tai biến mạch máu não.

Năm đó, sau khi ra viện, tôi thấy nhà văn Lê Lựu chăm chỉ luyện tập thể dục, chăm chỉ dưỡng sinh theo chỉ dẫn của bác sỹ, và mời bác sỹ vật lý trị liệu về tận nơi ở của mình tại Trung tâm Văn hóa Doanh nhân ở ngõ 319 Tam Trinh để xoa bóp, bấm huyệt. Điều đó chứng tỏ lo bệnh tật, khát khao khỏe mạnh, ham sống trong nhà văn Lê Lựu còn mãnh liệt lắm, nhưng cái tính tham công tiếc việc đã làm hại ông.

Ngay sau khi tai biến lần đầu, chiều nào nhà văn Lê Lựu cũng đi tập thể dục bằng cách dạo bộ hàng giờ đồng hồ. Cũng vì dạo bộ mà trong một lần đang đi thể dục quanh khu vực Đền Lừ, nhà văn Lê Lựu đã gặp một cơn dông, ông bị tai biến lần hai và đưa vào cấp cứu ở Viện 108. Từ đó, sức khỏe ông xem chừng yếu hẳn.

Sau này ra viện, mỗi lần đi tập thể dục, nhà văn của chúng ta có một người giúp việc mang ô đi cùng để mỗi khi trời trở gió nắng mưa còn có cái để che kịp thời. Tôi đã có bài viết kể về Lê Lựu đi thể dục với chiếc ô trong tay nom thật ngộ nghĩnh và buồn cười. Thế nhưng sau lần tai biến mạch máu não mới đây nhất, cuối năm 2009, sức khỏe của nhà văn xem xa thảm cảnh. Khi tôi đến, cũng đúng lúc Lê Lựu vừa đi thể dục về. Khó khăn lắm để lê cái chân trái bước bình thường như chân phải, và việc đi lại phải dựa vào một người sức vóc để dìu từng bước.

Tôi nhớ lại các giai đoạn của nhà văn Lê Lựu mà tôi chứng kiến, từ đi bộ thoăn thoắt một mình, gặp lần sau đi bộ đã phải có người mang ô đi bên cạnh để dìu đỡ kịp thời khi mệt, và lần này thì hoàn toàn khó có thể tự đi lại một mình nếu không có người nâng bước. Các giai đoạn thay đổi quá nhanh, một cảm giác xót xa dâng tràn. Khi chúng ta già yếu, sức khỏe sẽ bỏ chúng ta mà đi rất nhanh, đến mức chúng ta không thể hình dung được.

Nhưng nỗi đau, sự bất lực mà nhà văn Lê Lựu đang gánh chịu không phải là bệnh tật, không phải là sự nỗ lực bất thành của Trung tâm khi không phát triển lớn mạnh hơn những gì mà bản thân ông gây dựng và kỳ vọng. Nỗi đau, sự bất lực của nhà văn Lê Lựu lúc này chính là những bất hạnh trong cuộc sống riêng tư.

Nhà văn Lê Lựu không hề có ý định giấu giếm, che đậy nỗi bất hạnh của mình. Ông đã khóc khi kể cho tôi nghe những gì vừa diễn ra trong những ngày cuối năm này, khi mà bệnh tật thêm một lần nữa muốn quật ngã ông. Lần tai biến mạch máu não mới đây, ông nằm điều trị ở Viện 108 hơn 1 tháng. Cũng như hầu hết các lần vào viện trước, con cái chỉ đến thăm nom được đôi ba lần. Vẫn biết cha mẹ ốm là trách nhiệm của con cái chăm sóc phụng dưỡng, nhưng cuộc sống hiện đại, công việc nhiều áp lực, nhiều bận rộn, các con của Lê Lựu đã không thể túc trực bên bố thường xuyên được. Mọi việc từ cháo lão, giặt giũ, chăm sóc, đổ bô đều nhờ cả vào các nhân viên ở Trung tâm. Điều đó đã là một nỗi buồn, sự mặc cảm của ông, một nỗi ái ngại, cám cảnh xa xót của những bệnh nhân cũng phòng khi biết được hoàn cảnh trớ trêu của nhà văn.

Lần ốm thứ ba này, không hiểu vì sao, vợ và các con ông đã xin phép ông được bán cái nhà ở số 8 Lý Nam Đế, ngôi nhà 50m2 mà nhà văn Lê Lựu được cơ quan phân cho và cả gia đình ông đã ở từ năm 1989 đến nay. Nói là cả gia đình ở nhưng thực ra nhà văn Lê Lựu đã ra ngoài sống một mình hơn chục năm nay, ngôi nhà chủ yếu là để lại cho vợ và các con ở.

Nhà văn Lê Lựu tâm sự rằng ông không bao giờ muốn bán ngôi nhà ấy cho dù bản thân ông không ở đó nhưng ông tâm niệm dẫu sao đó cũng là một chốn đi về của ông trong những ngày lễ tết. Đặc biệt là dịp 30 Tết, bao giờ ông cũng trở về ngôi nhà của mình, đón giao thừa cùng vợ con và thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên. Bán ngôi nhà đi có nghĩa là bán đi nơi chốn cuối cùng ông có thể trở về, là mất đi hình hài của một gia đình mà ông từng có. Gia đình đấy dẫu trọn vẹn hay không trọn vẹn, dẫu buồn lụy nhiều hơn hạnh phúc thì dẫu sao khi mất đi, ông cũng cảm thấy không trắng tay, nhưng lại chống chếnh hơn bao giờ hết. Lê Lựu muốn để lại ngôi nhà này cho các con, đặc biệt là cho con trai sau này còn lập gia đình. Thế nhưng vì nhiều lý do, chủ yếu là lý do không hợp mệnh, hợp tuổi, hợp sức khỏe, vợ và các con ông đã mong muốn được bán căn nhà. Việc mong được bán căn nhà diễn ra đúng vào lúc nhà văn Lê Lựu đang bị tai biến mạch máu não và đang phải điều trị ở Viện 108.

Dẫu biết có muốn giữ lại căn nhà cũng khó khi vợ và các con không muốn giữ nữa, nhà văn Lê Lựu đã kể rằng, ông đã làm một phép thử tình cảm với các con của ông với hy vọng các con ông vì tình thương yêu bố thì sẽ chọn bố mà không phải chọn bất kỳ thứ gì khác, và vì tình máu mủ mà giữ căn nhà lại nhưng than ôi, nhà văn Lê Lựu đã một lần nữa thất bại thảm hại khi các con ông đã đồng ý ký vào giấy cam kết không liên can đến bố nữa để bố đồng ý cho bán căn nhà.

Kể đến đây, nhà văn Lê Lựu lại khóc, ông lật đật nhờ hai người dìu ông vào tủ, mở khóa tủ lấy ra tờ giấy viết tay nguệch ngoạc ở viện cho tôi xem tận mắt. Rồi như một đứa trẻ ông đợi tôi đọc tờ giấy mà mặc cho nước mắt chảy tràn gò má. Trong tờ giấy là dòng chữ của nhà văn Lê Lựu: ” Ngày 28/11/2009. Tôi đồng ý bán nhà…” (vì điều kiện tế nhị chúng tôi không thể đăng hết nội dung trong tờ giấy này).

Trong nước mắt, trong nỗi đau khổ, nhà văn Lê Lựu nói: “Tôi chỉ định thử xem các con tôi có vì bố mà giữ lại căn nhà không vì căn nhà tôi đã dành cho hai đứa rồi, nhưng không ngờ chúng nó đồng ý và ký ngay vào tờ giấy từ bố đẻ. Lúc đầu tôi cũng định cho chúng nó cả, không lấy đồng nào nhưng chính anh trai và chị gái của vợ tôi không đồng ý, bạn bè tôi cũng không đồng ý mà khuyên tôi giữ lấy số tiền 2 tỷ để thuốc thang chữa bệnh những lúc ốm đau. Ngay sau đó, vợ và các con tôi lập tức đưa công chứng đến tận bệnh viện, việc mua bán diễn ra ngay trong bệnh viện.

Cũng hôm các con ký vào giấy từ bố do tôi viết, không hiểu sao vợ tôi cũng viết luôn đơn ly dị và yêu cầu tôi ký đơn. Tôi nghĩ khi tình phụ tử đã không còn thì nghĩa phu thê cũng còn gì phải giữ. Sở dĩ lâu nay tôi không ly dị là vì các con, và tôi cũng không có ý định lập gia đình hay đi bước nữa dù vợ chồng tôi không thể ở được với nhau”.

Tôi không hình dung được căn nguyên của mọi chuyện, không hiểu được vì lý do gì, có phải vì nhà văn Lê Lựu đã làm điều gì đó sái lòng đến mức khiến cho vợ và các con cảm thấy cần phải cắt đứt mọi ràng buộc với nhau để có lấy sự tự do thanh thản hay không? Có một điều chắc chắn rằng, mọi sự tan vỡ đều không phải lỗi từ một phía. Ly hôn ở tuổi ngoài 70, trong một sức khỏe suy sụp, sự sống chỉ còn lay lắt, chắc hẳn vợ ông phải có những lý do riêng để không thể mang danh chồng vợ, ở với nhau dù trên danh nghĩa một giây phút nào.

Chỉ có điều tôi e rằng, nhà văn Lê Lựu đang mất đi những gì rất thiêng liêng. Đau đớn hơn hết thảy là ông nhận ra rằng ông trơ trọi lại một mình trên cõi đời này, các con đẻ của ông đã sẵn sàng từ bỏ ông ngay cả giây phút ông cần chúng nhất. Nỗi đau này hẳn sẽ theo ông ngay cả khi ông trở về với một thế giới khác. Tôi cứ nghĩ nếu nhà văn Lê Lựu không có đứa con riêng với người vợ đầu, giờ đây ông sẽ đau đớn đến nhường nào. Cũng may chị Lương đã làm cho ông ấm lòng hơn trong tận cùng nỗi đau. Chị đã thương bố, chăm sóc bố bằng tất cả tình cảm máu mủ ruột rà của người con hiếu thảo.

Có lẽ năm nay nhà văn Lê Lựu sẽ đón một cái tết buồn nhất trong cuộc đời của mình. Tôi nói điều đó với ông trong buổi chiều cuối năm khi mang bản thảo đến cùng ông ngồi đọc lại lần cuối trước khi in. Lê Lựu đọc một mạch, không sửa dòng nào, nhưng ông lại khóc, nước mắt chảy ràn rụa…

Khánh Thục Anh Thi

http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/nhanvat/2010/2/53451.cand

Biết thêm một câu chuyện : Lê Lựu và hai đứa con

Biết thêm một câu chuyện : Lê Lựu và hai đứa con

1/ Hồi mình còn đi học phổ thông,năm ấy vẫn là chiến tranh phá hoại của Mỹ lên miền Bắc lần thứ nhất (Giai đoạn 1964-1969).Hồi ấy khu tập thể gia đình quân đội nơi mẹ mình làm là những căn nhà lợp giấy dầu,nhà này ngăn nhà kia bằng lá cót thật mỏng.Hàng xóm nhà mình là vợ chồng một cô y sĩ Nam Hà (Ngày ấy người ta gọi y tá học ba năm là y sĩ) quê ở huyện Ý Yên
Vào một mùa hè thật nóng
Mình nghe tin buồn của nhà cô ấy là ‘Bố đẻ cô ấy mất”
Cô ấy vội vã về quê
Bẵng đi mấy ngày (Hồi ấy tang gia cũng chỉ được 3 ngày cộng với mấy ngày cả đi lẫn về),mình thấy cô ấy lên mặt mũi bơ phờ.
Rồi một buổi sáng mình đang nấu cơm lại nghe tiếng bên nhà ấy có tiếng nói vọng sang,cứ nghe rì rầm,mình nghe và lờ mờ nhận ra rằng:
-Ngay cái tối hôm bố đẻ cô ấy chết,khi ông cụ đương nằm trong áo quan,cô ấy cùng cô em gái  ruột của cô tranh nhau tài sản thừa kế với em giai ruột  cô ấy ở quê,nội dung thế nào mình không rõ..??
Sau này
Từ bấy giờ đến lúc mình lớn đi bộ đội,bây giờ mình cũng già rồi,vào khu tập thể cũ thấy hàng xóm bảo :
-Chẳng bao giờ thấy cậu em giai ấy lên  thăm nhà chị gái ruột nữa
Rõ là chẳng ra gì…Hồi ấy nhà ông cụ ấy chỉ có một cái sập gụ,một cái tủ chè với mấy trăm đồng bạc..thế mà chị em vì mấy trăm bạc vụn ấy mà xa nhau…
Thi thoảng mình nghe hàng xóm dạy con:
-Khôn ngoan thì đi kiếm tiền ở thiên hạ ấy..anh em thì lọt sàng xuống nia cắn nhau làm gì.??..đừng học cái nhà ấy..toàn lũ ” Có học cũng như không”??
——————————————
Bẵng đi thật lâu mình cũng đã quên cái chuyện anh em hay chị em ruột cắn nhau vì tiền ấy…
Hôm nay rỗi,mình lại đọc Tác Phẩm Thời xa vắng của Lê Lựu
Ai quan tâm Nhấp chuột vào đây để xem toàn bộ Tác phẩm thời xa vắng 
Lại nhớ thật lâu rồi mình có đọc một bài người ta viết về ông có một đoạn như sau:
“Ra ngoài được lắm người thương, nhiều bạn đọc mến mộ, nhưng trong gia đình, Lê Lựu là người chồng bị coi nhẹ, người cha bị các con ghẻ lạnh. Năm ngoái, Lê Lựu bị tai biến mạch mãu não lần thứ ba, phải nằm viện. Trong lúc nhà văn đang vật lộn giữa ranh giới của sự sống và cái chết thì vợ ông mang giấy ly hôn đến để ông ký; còn hai đứa con chỉ chầu chực chờ bố cho phép bán căn nhà 50 mét vuông ở phố Lý Nam Đế. Không muốn mất đi nơi ở đã gắn bó với mình suốt 20 năm qua và cũng mong níu kéo chút tình cảm của các con, nhà văn đã đưa ra một điều kiện đau đớn. Nếu các con ký giấy cam kết không liên quan gì đến bố nữa, thì ông sẽ đồng ý bán nhà. Không ngờ, hai đứa con ký luôn vào tờ giấy từ bố đẻ. Lê Lựu thua trắng, mất trắng và tuyệt vọng đến cùng cực.
“Hai đứa con tôi đều được ăn học đến nơi đến chốn. Đứa con gái lớn tốt nghiệp trường Ngoại giao, nay đi làm cho Liên hợp quốc. Đứa con trai tốt nghiệp Học viện báo chí, nhưng chưa làm được việc gì ra trò, suốt ngày lông bông”
Mình đọc rồi lại nhớ chuyện chị em nhà nọ hàng xóm nhà mình cãi nhau chia của khi ông bố mất,những tưởng họ ít học nên mới như thế.Nay thấy con đẻ ông Lê Lựu đều học hành đến nơi mà như thế kia..tự nhiên mình buồn cho đời quá
Bây giờ
Ai hỏi mình :
– Có muốn nổi tiếng như Ông Lê Lựu không? Có muốn con giỏi giang như ông Lê Lựu không?
Mình sẽ lắc đầu:
-Tôi chẳng muốn như thế đâu..Tôi không muốn nhìn cảnh lũ có học nó  “trọng tiền hơn tình”…
Thế
Mình viết ra cho con mình nó xem..để nó suy ngẫm thế nào là đời..?và thế nào là tình..? và để nhớ rằng trở thành người  tốt thật khó vô cùng…thế thôi
—————————

2/ Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại xã Tân Châu, huyện Khoái Châu – Hưng Yên, là một nhà văn Việt Nam, thành viên của Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1974, chuyên về tiểu thuyết và truyện ngắn, tiêu biểu là Thời xa vắng đã được đạo diễn Hồ Quang Minh của Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim truyện nhựa và ra mắt công chúng năm 2004. Ông hiện nay đang đảm nhiệm chức Giám đốc của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân tại Hà Nội.
[sửa] Tác phẩm
Thời xa vắng, 1986
Sóng ở đáy sông, 1994
Chuyện làng Cuội, 1991
Người cầm súng, 1970
Mở rừng, 1976
Truyện ngắn Lê Lựu, 2003

3/Lê Lựu chưa tắt nụ cười đã rơi nước mắt
Lê Lựu vốn mau nước mắt. Chuyện buồn khiến ông xúc động, chuyện vui cũng làm ông nghẹn ngào. Nhưng khi nhà văn – gần 70 tuổi, bệnh tật đầy mình – úp mặt vào lòng bàn tay, nức nở kể chuyện vợ con, thì nước mắt ấy có lẽ là chát đắng nhất cuộc đời ông.
Mấy năm gần đây, sức khỏe tác giả “Thời xa vắng” suy giảm trầm trọng. Bệnh tật đeo bám lấy thân thể còm cõi của ông, không tha bất cứ bộ phận nào. Tiểu đường, tiền liệt tuyến, đau gan, thận, nhũn não, thấp khớp, gout… Lê Lựu nói, ông bị tấn công một cách “toàn dân toàn diện”.

Vì vậy, khi thấy Lê Lựu, áo sơ mi trắng, quần sooc ngắn, bước đi có người dìu, xuất hiện tại Hội thảo Văn học Việt – Mỹ vừa diễn ra ở Hòa Bình, nhiều bạn văn của ông mừng rỡ. Còn Lê Lựu, như mọi khi, lại thoáng cười, thoáng khóc. Gương mặt râu ria, với mái tóc lòa xòa của ông rạng rỡ hẳn lên khi nghe đồng nghiệp trong và ngoài nước nhắc lại những kỷ niệm xưa, ca ngợi ông như là sứ giả đầu tiên bắc nhịp cầu hòa bình hậu chiến giữa các nhà văn Việt – Mỹ. Rồi ông khóc, lúc rấm rứt, lúc nức nở trước những cái ôm thật chặt, những lời hỏi thăm chân tình của bè bạn.
Những năm 1987 – 1988, Lê Lựu là nhà văn Việt Nam đầu tiên được Trung tâm William Joiner (WJC – Đại học Massachussetts) mời sang Mỹ giao lưu, nói chuyện, nhằm bước đầu hàn gắn mối quan hệ giữa hai nước sau chiến tranh. Kể lại chuyến đi này, ông vừa bùi ngùi trước tấm lòng của những cựu binh – nhà văn ở WJC như Kevin Bowen, Bruce Weigl, Nguyễn Bá Chung; vừa áy náy trước những chuyện cười ra nước mắt ông gây ra trên đất Mỹ. “Hồi đó, chân đất mắt toét, lơ ngơ đến một nước phát triển, tôi đã mấy lần cãi nhau với cái toilet hay cái điện thoại nhà Kevin và Bá Chung”, Lê Lựu kể. Một hôm, từ nhà Kevin, Lê Lựu tính gọi điện sang buôn chuyện với nhà văn Nguyễn Bá Chung. Lão nông đất Hưng Yên vừa “alo” thì điện thoại nhà ông bạn nhảy ra một tràng: “Tôi là Nguyễn Bá Chung, hiện tôi đang đi vắng, xin hãy để lại lời nhắn”. Nghe đi nghe lại chừng ấy chữ, Lê Lựu nổi đóa, vùng vằng đáp trả vào ống nói: “Rõ ràng là ông đang nói với tôi, thế mà ông lại bảo là đi vắng. Không muốn nói chuyện với tôi thì ông cứ nói thẳng”. Hôm sau gặp lại, Nguyễn Bá Chung mới cười mà rằng: “Ông đi cãi nhau với cái điện thoại làm gì”. Lê Lựu kể rồi cười giòn, vừa hồn nhiên, vừa ngượng nghịu. Ông tự bào chữa: “Nhưng có lẽ, vì tôi nông dân, vì tôi thật như hòn đất, nên được người ta thương, người ta quý”.

Ra ngoài được lắm người thương, nhiều bạn đọc mến mộ, nhưng trong gia đình, Lê Lựu là người chồng bị coi nhẹ, người cha bị các con ghẻ lạnh. Năm ngoái, Lê Lựu bị tai biến mạch mãu não lần thứ ba, phải nằm viện. Trong lúc nhà văn đang vật lộn giữa ranh giới của sự sống và cái chết thì vợ ông mang giấy ly hôn đến để ông ký; còn hai đứa con chỉ chầu chực chờ bố cho phép bán căn nhà 50 mét vuông ở phố Lý Nam Đế. Không muốn mất đi nơi ở đã gắn bó với mình suốt 20 năm qua và cũng mong níu kéo chút tình cảm của các con, nhà văn đã đưa ra một điều kiện đau đớn. Nếu các con ký giấy cam kết không liên quan gì đến bố nữa, thì ông sẽ đồng ý bán nhà. Không ngờ, hai đứa con ký luôn vào tờ giấy từ bố đẻ. Lê Lựu thua trắng, mất trắng và tuyệt vọng đến cùng cực.
“Hai đứa con tôi đều được ăn học đến nơi đến chốn. Đứa con gái lớn tốt nghiệp trường Ngoại giao, nay đi làm cho Liên hợp quốc. Đứa con trai tốt nghiệp Học viện báo chí, nhưng chưa làm được việc gì ra trò, suốt ngày lông bông”, ông đau khổ nói.

Niềm an ủi duy nhất của Lê Lựu những ngày đó là đứa con gái ông có với người vợ đầu – người vợ mà ông chỉ kết hôn vì gia đình sắp đặt. “Dạo đó, nó cứ tối thì từ Hưng Yên lên đây chăm tôi, sáng ra lại trở về đi làm”, nhà văn úp mặt vào hai bàn tay xương xẩu, khóc nức lên khi nhắc về đứa con gái vất vả nơi quê nhà – đứa con không được ông chăm sóc chu đáo nhưng lại có hiếu nhất khi bố lâm trọng bệnh.
Giờ thì, Lê Lựu – nhà đã bán, vợ đã bỏ rơi, con đã từ cha – sống cô quạnh ngay tại cơ quan – Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, nơi ông làm giám đốc. Mọi việc, từ nấu nướng, tắm giặt, thuốc thang, đến bóp chân, bóp tay cho ông, đều do nhân viên đảm nhận. Nhưng ông vẫn viết, vẫn cười xòa những nụ cười ngắn ngủi trước những đợt nước mắt có thể tuôn ra bất cứ lúc nào: “Tôi phải viết chứ, làm việc cũng là một cách giải khuây, còn nghĩ đến nghỉ ngơi là lúc sắp đi Văn Điển hẳn”, ông tâm sự.
( Bài viết của Lưu Hà)
Nguồn trích dẫn (0)

23 Bình luận

  1. MrTu_HuYe (Hội trưởng DTP)
    Lê Lựu cùng quê Hưng Yên với cháu đấy bác Cựu à.
  2. nangha_mitr

    nangha_mitr

    16:50 27-09-2010

    Đọc xong…thấy đời sao bất nhẫn quá anh ơi….

    Nhân tình thế thái thời nay…thật là k còn gì mà nói…

    Chúc anh tuần mới có nhiều ý tưởng mới…vui thật là vui!

  3. Riêng tư
    Bình luận riêng

    Riêng tư

    Bình luận riêng
  4. nguoiconcuanui_hg

    nguoiconcuanui_hg

    01:24 22-09-2010

    Thật chua xót anh à!

  5. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:49 22-09-2010

    viết ra để chiêm ngẫm,chúc em vui nhé
  6. venus_U60

    venus_U60

    20:02 21-09-2010

    Kính mời CCB dành thời gian vô đây đọc chút ạ:
    http://vn.360plus.yahoo.com/venus_u60/article?mid=1786
    Ông Chu Dung Cơ đã viết ra những điều trần trụi nhất của cuộc sống, nhiều người vẫn không chịu công nhận cách đối nhân xử thế giữa những người trong gia đình như ông Cơ đã viết ra là không thể!
    V chợt nhớ nhiều câu chuyện được đăng báo, dựng thành phim nói về những người cha, người mẹ bán nhà chia cho con, những mong con cái được hưởng của cái của bố mẹ sẽ tận tâm chăm lo cho mình. Thời gian đầu, các con vui lắm, túi tít quây quần bên cha mẹ, nhưng chỉ một thời gian ngắn, rất ngắn, họ đã coi bố mẹ như kẻ ăn bám, sống bám, còn các cụ đành ngậm đắng nuốt cay sống tiếp bởi nhà không còn, đành nhờ những kẻ bất hiếu kia để sống lay lắt cho qua ngày.
    Kính chúc CCB một buổi tối thật vui đón trung thu!
  7. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:50 22-09-2010

    cám ơn bác,tôi đã đọc hết bài bên ấy rồi ạ,chúc bác vui nhé
  8. Riêng tư
    Bình luận riêng

    Riêng tư

    Bình luận riêng
  9. Riêng tư
    Bình luận riêng
  10. phuongtim

    phuongtim

    15:42 21-09-2010

    Con cái sao lại bất hiếu với cha đến thế , rõ là cha mẹ sanh con, xã hội sinh ra tính!
  11. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:51 22-09-2010

    giống ấy bây giờ nhiều lắm,chúc Bác vui nhé
  12. HoàngHônTím.

    HoàngHônTím.

    15:22 21-09-2010

    Cháu đọc và thấy buồn quá chú à.
  13. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:51 22-09-2010

    vâng chúc cô giáo vui ạ
  14. Tăng Hoành Lão

    Tăng Hoành Lão

    14:00 21-09-2010

    Không nên lẫn lộn ” có học ” với ” có văn hóa ” . Tôi buồn nhất về điều này . Nhiều kẻ bây giờ có học mà không có văn hóa . Trước đây dân ta 80% mù chữ nhưng 80% có văn hóa . Giờ ngược lại . LỖI NÀY TẠI ĐÂU ?
  15. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:52 22-09-2010

    cám ơn Bác đã dạy
  16. Ngựa mỏi chân rồi

    Ngựa mỏi chân rồi

    13:35 21-09-2010

    Mình rất thích “Thờ xa vắng” của Lê Lựu. Cuốn sách đó thời mới xuất bản lần đầu, cái tuổi tụi mình hình như ko có ai ko đọc. Có gì đó ẩn chứa cuộc đời ông…Thật xót xa… mà cũng rất khâm phục
  17. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:53 22-09-2010

    vâng,bác có đọc lại truyện ấy nữa không ạ?
  18. Mây Xanh

    Mây Xanh

    12:50 21-09-2010

    Buồn quá anh ạ. Người ta bảo “con cái là của để dành của cha mẹ” … mà như thế này thì đau lòng lắm. Đúng là cuộc sống, chẳng biết thế nào mà nói trước anh nhỉ
  19. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:52 22-09-2010

    anh hiểu tâm tư của em,chúc em vui
  20. Nguyệt VŨ

    Nguyệt VŨ

    11:17 21-09-2010

    Song o tren doi ma khong day duoc con thi du thanh cong hay that bai deu vo cung kho tam. Mong rang hai con cua bac Le Luu doc duoc bai viet nay ma co loi the nao chu dao duc gia dinh ma nhu the nay thi nghiem trong qua!

    Buon!!!

  21. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:54 22-09-2010

    cuộc sống vẫn đang tiềm ẩn những điều có thể,chúc em kinh doanh thành đạt và thơ hay
  22. Lính già-Nguyễn Bảng

    Lính già-Nguyễn Bảng

    10:34 21-09-2010

    Cuộc đời con người chả thể biết thế nào được anh ạ. Cái ông Lê Lựu “Giang Văn Sài” này có vợ và con gái ở xã Đông Ninh, huyện Khoái Châu, gần nhà em. Cô bé này có tóc quăn tự nhiên, ngày xưa học cấp 3 với em, khác lớp. Cô bé này học văn cũng rất tốt. Vì vậy cũng chung lớp bồi dưỡng học sinh giỏi văn của trường cấp 3 Khoái châu. Giờ cô ấy bằng tuổi em, cũng 46 đấy. Thấy tội cho Lê Lựu. Hai người con kia là của bà vợ hai. Cuộc sống bây giờ điên đảo, đồng tiền làm mờ mắt con người, tình nghĩa vợ chồng đổi thay như thay áo. Tình cha con bị đánh đồng và phũ phàng trắng trợn. Không thể hiểu được rằng những người họ lấy đồng tiền trên giá trị nhân phẩm mà người đời nguyền rủa thì rồi họ sẽ sống ra sao anh nhỉ. Lê Lựu bất hạnh nhưng lại còn may mắn vẫn còn người con gái quê tuy nghèo mà ấm tình cha con và nhân nghĩa. Ôi cuộc đời chẳng thể nào hiểu hết anh nhề!
  23. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:55 22-09-2010

    Lời còm của Em thật ấn tượng,hóa ra Em tôi đã được học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi văn,chúc em vui nhé
  24. nguytruong_nt

    nguytruong_nt

    05:27 21-09-2010

    Chuyện bất ngờ về nhà văn nổi tiếng khi lâm bệnh. Thôi thì xem như là số phận, cũng như số phận một số nhân vật của ông….
    Mấy năm trước, em có gặp nhà văn LL khi ông dự lễ khánh thành cụm cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Hồi đó ông còn rất khỏe. Ai cũng tranh thủ chụp hình kỹ niệm với ông mà quên không hỏi thăm gì cả…
  25. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    20:57 22-09-2010

    bác cũng chụp hình với ông ấy nhỉ?chắc là cứ nghĩ ông ấy đầy đủ cà nên cũng không hỏi thăm Bác nhỉ?
  26. ThạchThảo

    ThạchThảo

    22:57 20-09-2010

    Em về rồi nè.
    Dài quá Cựu ơi em chưa đọc được. Thăm Cựu trước đã.
    Chúc Cựu luôn vui.
  27. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:12 21-09-2010

    chúc em vui
  28. PHONG AN SỌNG-club47(359)

    PHONG AN SỌNG-club47(359)

    21:32 20-09-2010

    Cảm ơn bạn đã kể về câu chuyện này của nhà văn tài ba Lê Lựu.Ôi tàn nhẫn và cay đắng quá có lẽ nào những người con của một người nhân ái như ông lại sống đến mức tận cùng của sự khốn nạn và tàn ác với người cha của mình thế sao.Chỉ còn lại một người con riêng của ông vẫn đến thăm ông.Tôi thấy chị như là bà tiên trong câu chuyện cổ tích của tình người lòng nhân ái với nhà văn này.Có lẽ mọi người luôn kính trọng ông nhưng cái ông cần có lẽ là một tấm lòng của người ruột thịt một triết lý giản đơn của người Việt Nam (Kiếm dăm ba chữ để làm người).Ôi có nhiều chữ thế mà chẳng học được chữ người hỡi thế gian?
  29. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:13 21-09-2010

    cám ơn Bác đã chia sẻ
  30. Del_Hello

    Del_Hello

    21:12 20-09-2010

    Lâu lắm mới có dịp vào thăm nhà pác Cựu và đọc được entry này. Pác Cựu ạ, chuyện gia đình mỗi nhà mỗi cảnh. Thực lòng tôi không dám bình vì chưa biết thực hư nhưng làm nghề văn nhiều khi dễ xúc động chứ nghĩ một cách sâu xa  hơn về tình cha con và chồng vợ thì chưa chắc các con bác Lựu lại tuyệt tình như thế được. Thông tin nên đưa ra từ 2 phía thì người phán xét sẽ công  bằng hơn. Các cụ bảo “vợ chồng như y phục” có thể hết tình. Nhưng từ bố thì xưa nay hiếm thấy lắm. Bác Lựu có thể hận vợ nên hận luôn cả con mình cũng nên – mong sao là như vậy. Thanks
  31. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:13 21-09-2010

    chào Bác,một ý kiến thật hay ạ
  32. vanganhmm_52@yahoo.com.vn

    vanganhmm_52@yahoo.com.vn

    18:20 20-09-2010

    Bác Cựu sưu tầm được một bàicực hay .Xưa nay những kẻ vô học bất hiếu, không ngờngười giỏigiang cũng thế!

    Tuy nhiên những kẻ như vậy chắc  không nhiều , phải không Bác?

  33. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:14 21-09-2010

    vâng Bác giáo nói đúng ạ
  34. thanhha

    thanhha

    15:11 20-09-2010

    Ui! Em xin lỗi! Tại anh Tân rủ em theo chân anh ấy sang nhà chị bạn đọc bài, em theo luôn, chẳng nhìn ngược nhìn xuôi gì, gửi luôn lời bình, gửi xong thấy ngờ ngợ, vội nhìn tên blog rồi ngó qua mấy bài khác … Ôi thôi! Không phải nhà chị bạn, mà là …
    Xin lỗi anh nhé!
    Chúc anh mạnh giỏi!
  35. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:14 21-09-2010

    cám ơn
  36. thanhha

    thanhha

    15:00 20-09-2010

    Em thấy xót xa cho tình cảnh nhà văn Lê Lựu, xót xa cho thế thái nhân tình!…
    Tuần mới nhiều niềm vui, chị nhé!
  37. tan_262

    tan_262

    14:17 20-09-2010

    Khi nhận biết được tác giả ” Thời xa vắng ”  thì cũng là lúc nhận ra nỗi bất hạnh đối với ông.  Thời  ấy – tôi rất thich đoc truyện ngắn của ông cùng Bùi Hiển. Qua bài viết của Lưu Hà, lão đây thật sự xúc động. Mong sao ông vượt qua được bệnh tình…tòan tập !
  38. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:15 21-09-2010

    cám ơn đã để lại lời ạ
  39. Nhatthuyh

    Nhatthuyh

    11:27 20-09-2010

    Đọc mới thấy rõ “Con học giỏi chưa chắc đã có hiếu”,Thật ra cái tâm thiện lương đâu chỉ ở những kẻ có học vị cao!!!Nỗi buồn của Lê Lựu cũng là nỗi buồn của nhiều người già hôm nay.Chúc bác luôn khỏe.Thân

  40. Cựu Chiến Binh

    Cựu Chiến Binh

    05:15 21-09-2010

    cám ơn thầy,chúc thầy giáo vui nhé

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!TBU0rwqQGRm4eBLnI3l4cVzdkd.pD1ASd5mWcn9GEcf8_CQ-/article?mid=23987

http://vnexpress.net/gl/van-hoa/2010/06/3ba1cbbd/

BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

Lê Tiến Dũng

Trong 45 năm phát triển của văn học cách mạng, văn xuôi Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Bài viết này chỉ dừng lại khảo sát một giai đoạn. Đó là giai đoạn sau 1975 đến nay. Bài viết chủ yếu nêu lên những phương diện phát triển nội tại của văn xuôi mà sẽ không nêu lên những tổng kết có tính chất phong trào như đội ngũ, tác phẩm…, vì về phương diện này đã có những bài viết khá thấu đáo rồi.

Nếu quan sát văn xuôi Việt Nam hiện đại trong thế kỷ XX này chúng ta sẽ thấy có ba giai đoạn phát triển chủ yếu.

Giai đoạn thứ nhất có thể kể đến là giai đoạn từ đầu thế kỷ đến năm 1945. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nếu so với trước đó văn xuôi đã có bước phát triển đáng kể. Văn xuôi của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Đông Hồ, Tương Phố… không chỉ mới mẻ ở câu văn, lời văn, ngôn ngữ mà còn ở cách dẫn chuyện, xây dựng nhân vật, kết cấu và cả những vấn đề hiện thực được đề cập trong đó. Rồi tiếp theo là Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm, văn xuôi Tự lực văn đoàn, và đặc biệt là văn xuôi hiện thực phê phán mà tiêu biểu là Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… đã đưa văn xuôi Việt Nam hiện đại lên đỉnh cao rực rỡ.

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn từ 1945 đến 1975. Đây là giai đoạn có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn xuôi cũng như văn học nói chung. Cách mạng tháng Tám thành công, một chế độ xã hội mới ra đời và tiếp theo là những năm tháng kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc để giữ gìn độc lập của Tổ quốc. Văn học gắn chặt với sự nghiệp vĩ đại đó của dân tộc. Cho nên đặc điểm của văn xuôi giai đoạn này là văn xuôi sử thi chiếm ưu thế. So với văn xuôi tiền chiến, văn xuôi hiện thực phê phán cách tân quan trọng nhất của văn xuôi giai đoạn này như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định là “phát triển ra nội dung cộng đồng trong đời sống xã hội và phương tiện cộng đồng trong ý thức cá nhân” (Lã Nguyên). Chưa bao giờ hình tượng Tổ quốc, hình tượng tập thể, hình tượng nhân dân lại chiếm ưu thế và hiện lên rực rỡ như thế trong văn học.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn sau 1975 đến nay. Từ sau 1975 đến nay, tuy mới 15 năm (tính đến năm 1990, thời điểm mà bài báo này đề cập – LTD), là một khoảng thời gian không dài, nhưng theo chúng tôi nó vẫn được xem là một giai đoạn phát triển bởi vì nó có những đặc điểm khác với các giai đoạn trước đó. Trong bài viết này, chúng tôi nhằm chứng minh điều đó.

Như mọi người đều biết, sau 1975, hiện thực đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường.  Có những chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập, để nhìn lại… Những điều này đòi hỏi văn xuôi phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới.

Có thể nói 15 năm qua văn xuôi đã có nhiều khởi sắc. Dĩ nhiên không phải ai cũng thừa nhận sự khởi sắc đó. Thậm chí có người còn cho là có bước thụt lùi. Trong bài Thời kỳ văn học vừa qua và xu hướng phát triển của văn học, với tất cả sự thận trọng của một nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định : “Thời kỳ văn học từ 75 đến nay đặc biệt quan trọng cho sự định hướng sắp tới… Đến nay đã 15 năm nhưng vẫn còn là sớm để thấy hết chân giá trị của những tác phẩm ra đời và những tác giả xuất hiện được chú ý thời kỳ này, một thời kỳ phong phú các hiện tượng văn học”. Và theo ông, đây là thời kỳ của “một sự kinh nghiệm – bừng tỉnh” (1). Với tư cách là Chủ tịch hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam, nhà văn Bùi Hiển nhận xét : “Ngay từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới” (2). Theo chúng tôi, đây là những nhận xét phù hợp với sự phát triển của văn xuôi sau 1975.

Vậy thì sự phát triển của văn xuôi sau 75 như thế nào ? Đâu là những cách tân và khởi sắc ?

Quan sát văn xuôi sau 75 chúng ta thấy có hai thời kỳ. Thời kỳ đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80. Văn xuôi thời kỳ này tuy có một số biến đổi như mở rộng đề tài, đề cập        đến nhiều vấn đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của văn xuôi giai đoạn trước. Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật. Chúng ta nhớ đến những sáng tác văn xuôi ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu…

Phải từ những năm 80 văn xuôi mới thật sự có những bước chuyển đáng kể. Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trước. Người ta thấy trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lệ Lựu… đã bắt đầu có những đổi mới. Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nếu trước đây Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng. Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú. Nếu Nguyễn Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Chị Nhung…. thì bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ rằng tưrớc một hiện thực mới, một công chúng mới không cho phép nhà văn viết như cũ. Sự đổi mới của các nhà văn do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ. Trong số những nhà văn này không thể không kể đến một tên tuổi đã mang đến sự đổi mới rất sớm trong những trang viết của mình, và cũng bằng những trang viết đầy suy tư của mình đã dự cảm rất sớm những biến đổi của xã hội. Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu. Ngay từ sau 1975 và nhất là những năm đầu thập niên 80 với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị Hằng… rồi Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau… Nguyễn Minh Châu thực sự đã để lại những trang viết của một kiểu tư duy nghệ thuật khác trước. Và chính ở đó, nhà văn đã nêu lên được, phân tích, lý giải nhiều vấn đề có tầm bao quát rộng lớn.

Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và diện mạo của văn xuôi. Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh… đã mang lại cho văn xuôi những sắc thái mới mẻ. Đọc những cây bút này, người ta có thể chê trách điều này, điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhưng không thể không thừa nhận những đổi mới mà học đã đem đến trong văn xuôi giai đoạn này.

Sau khi đã nhìn lướt qua một cách khái quát tình hình văn xuôi sau 1975 (ở đây chủ yếu là tiểu thuyết và truyện ngắn, truyện vừa còn ký chúng tôi sẽ đề cập ở một bài khác), có thể nêu lên một số đặc điểm để thấy rõ hơn bước phát triển của văn xuôi giai đoạn này.

*

Trước hết có thể thấy rất rõ bước phát triển của văn xuôi trên bình diện tư duy nghệ thuật. Văn xuôi của ta sau 75 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết . Cần phải nói ngay rằng sự đối lập giữa tư duy tiểu thuyết và tư duy sử thi về mặt đặc trưng thể loại không có ý nghĩa phân biệt thang bậc giá trị. Có những đề tài vấn đề có khi tiếp cận bằng tư duy sử thi lại có giá trị hơn tư duy tiểu thuyết và ngược lại. Vấn đề là sự tương ứng giữa đề tài với nội dung thể loại. Văn xuôi trước 75 chủ yếu là văn xuôi sử thi. Và sự tiếp cận này về cơ bản là phù hợp với đối tượng mà nó phản ánh, cảm hứng mà nó bộc lộ. Với kiểu tiếp cận này, văn xuôi giai đoạn này cũng đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Điều này đã được nhiều người khẳng định, không cần chứng minh lại ở đây.

Sau 1975 như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp cận phù hợp. Điều đó đòi hỏi đổi mới tư duy nghệ thuật. Quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó khăn và thử thách. Tư duy nghệ thuật đã dần dần chuyển sang tư duy tiểu thuyết là phù hợp với đối tượng phản ánh và là một quá trình tất yếu trong sự phát triển của văn học.

Thật ra, tư duy tiểu thuyết không phải không có trong văn xuôi giai đoạn trước. Trong văn xuôi 1930 – 1945 mà biểu hiện rõ nhất là trong văn xuôi hiện thực phê phán tư duy tiểu thuyết đã chiếm một vị trí đáng kể. Nhưng với văn học cách mạng 1945 – 1975 do đề cập đến những vấn đề lớn lao của dân tộc, của cách  mạng nên tư duy sử thi chiếm ưu thế. Đúng như Hoàng Ngọc Hiến nhận xét : “Trong văn xuôi ta, tư duy tiểu thuyết thảng hoặc bộc lộ ở một số tác phẩm đơn lẻ : Cha và con, và… của Nguyễn Khải, Thời xa vắng của Lê Lựu, nói chung tư duy sử thi chiếm ưu thế” (3). Phải đến sau 75 và nhất là từ thập niên 80 tư duy nghệ thuật mới chuyển dân từng bước từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Có thể thấy quá trình chuyển biến này trong cả lớp nhà văn đã được khẳng định cũng như ở lớp nhà văn mới, xuất hiện trong thời kỳ này. Đọc những Tâm tưởng của Bùi Hiển, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam,… đã bắt đầu thấy có cách tiếp cận khác trước. Ở đây không chỉ ngợi ca khâm phục mà còn là sự phân tích, lý giải các hiện tượng của hiện thực. Nếu trước đây chủ yếu là cách nhìn đơn diện, rạch ròi thiện ác, địch ta, cao cả thấp hèn… thì bây giờ cách nhìn nhiều chiềuhơn, đa diện hơn, phức tạp hơn.

Đến Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu và nhất là ở lớp nhà văn trẻ sau 1975 cách nhìn tiểu thuyết mới thật sự chiếm vị trí chủ yếu và trở nên có sức thuyết phục trong việc nắm bắt và lý giải hiện thực.

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện sau 1975 đã gây nên tranh luận khá sôi nổi. Nhiều người cho rằng anh đã “xa đề tài trung tâm”, rằng trong sáng tác của anh “chủ đề không rõ ràng”, rằng những nhân vật mà anh đề cập là “dị thường”, “không có trong hiện thực”, v.v… và v.v… Thật ra Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận hiện thực từ một cách khác, cách nhìn tiểu thuyết nghiêng về khía cạnh đời tư, khía cạnh đời sống cá nhân phức tạp. Từ đó nhằm nêu lên những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh rộng lớn, không chỉ dừng lại ở chiến đấu và xây dựng. Những ai quen với cách đọc cũ, cách tiếp cận cũ dễ dàng từ chối cách viết này. Một chiếc thuyền ngoài xa là đề tài quen thuộc về một ngư phủ trong sương, nhưng cũng có thể ẩn chứa trong đó nỗi đau số phận con ngưới, biết bao cay đắng, nhục nhã, nhọc nhằn mà vẫn phải chấp nhận (Chiếc thuyền ngoài xa ). Bức tranh chân dung người chiến sĩ có thể làm người họa sĩ được giải thưởng quốc tế, mà cũng có thể vì nó mà bao bà mẹ trở thành mù lòa vì khóc con. Và đấy chính là nỗi ân hận day dứt suốt đời của ngưới họa sĩ đã từng được giải quốc tế. Thì ra đằng sau chân dung người chiến thắng có nỗi đau của các bà mẹ (Bức tranh ). Tính nhiều chiều trong cách nhìn hiện thực đó trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã làm cho truyện ngắn của ông trở nên có chiều sâu, đậm chất triết luận.

Thời xa vắng của Lê Lựu cũng được bạn đọc đón nhận một cách nồng nhiệt. Có lẽ trước hết là vấn đề mà ông  nêu ra : nhận thức lại một thời mới đây thôi mà tưởng như xa vắng từ thủa nào. Ấy là cái thời con người chỉ tưởng có lạc quan, chỉ là anh hùng mà không được biết đến bi kịch, nỗi đau riêng tư. Lê Lựu đã chỉ ra khía cạnh ấy. Người anh hùng Giang Minh Sài đã làm nên bao chiến công vang dội, bao chiến tích vẻ vang nhưng chính cuộc đời anh đầy cay đắng, bi kịch. Cái mà tác giả quan tâm không phải là những chiến công, ở sự ngưỡng vọng mà chính là nỗi đau nhân thế của người anh hùng. Thành công của Thời xa vắng về phương diện tiểu thuyết chính là chính ở chỗ này.

Đặc biệt văn xuôi của một loạt cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn diện mạo của văn xuôi thời kỳ này, mà nổi bật trong số họ là Nguyễn Huy Thiệp. Có thể nói trong văn xuôi đương đại của ta, chưa có một tác giả nào vừa xuất hiện mà lại gây tranh luận dữ dội như Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng không chỉ người khen anh mà cả người chê anh, nói như Nguyễn Kiên, ” những người chê anh dữ dội cũng công nhận anh có tài ” (4). Cái tài của Nguyễn Huy Thiệp chính là ở chỗ đã thay đổi hẳn cách viết, cách tư duy trong truyện ngắn mà nói rộng ra là trong văn xuôi. Đó là lối tư duy tiểu thuyết đã có ở Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu… được Nguyễn Huy Thiệp phát triển đến cao độ. Văn xuôi của ta, nói như Hoàng Ngọc Hiến, chủ yếu là kể lại nội dung chứ chưa phải là văn xuôi viết lại nội dung. Với văn xuôi kể lại nội dung thì vấn đề quan tâm là kê lại cái gì ? Còn với văn xuôi viết lại nội dung thì cái quan tâm là kể lại như thế nào ? Tâm thế kể lại nội dung đễ đưa văn xuôi trượt theo văn đưa tin, loại văn này bao giờ cũng có độc giả của nó, nếu đưa tin những chuyện có ý nghĩa giáo huấn sẽ được đánh giá là cần thiết, có ích, kịp thời…Nếu đưa tin những chuyện lạ, giật gân có khi sẽ được công chúng rộng rãi mến mộ. Trong văn xuôi viết lại nội dung sự kết hợp “viết cái gì” và “viết như thế nào” tạo ra sức căng cho câu văn, mạch văn, làm cho câu văn có giọng, có hồn, không bị “bẹt”, bị “ỉu xìu”(5). Văn xuôi của Nguyễn Huy Thiệp cũng như của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, … thuộc loại “viết lại nội dung”. Ở họ, chúng ta thấy không chỉ là việc nêu lên vấn đề gì, mà còn cả việc nêu vấn đề đó như thế nào nữa. Và do đó tác phẩm của họ thường mang tính đa nghĩa, nhiều tầng, nhiều nlớp. Nếu quên với văn xuôi đơn nghã thì đọc loại này dễ buộc tội là “rối rắm”, “khó hiểu”… Cho nên chúng ta không ngạc nhiên là trong những bài tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp đã có không dưới năm sáu bài bàn về cách đọc truyện ngắn của tác giả này. Với Tướng về hưu chẳng hạn, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ thông tin với bạn đọc về người anh hùng hôm qua giữa đời thường hôm nay, mà ở đây thông qua hình tượng vị tướng giữa đời thường tác giả lại viết lên những nội dung khác, mà những nội dung đó phải đọc đằng sau những câu chữ, hình tượng cụ thể : sự băng hoại đạo đức, quan niệm về con người, cuộc đời, các chuẩn mực về đời sống cần được xem xét lại như thế nào …?

Phải nói rằng tư duy tiểu thuyết ngày càng đắc dụng và chiếm ưu thế trong văn xuôi sau 1975, nhất là trong truyện ngắn. Nhà văn Nguyên Ngọc đã có một cảm nhận đúng khi cho rằng : “Một số truyện ngắn gần đây (như  Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh… chẳng hạn) lại có tính chất tiểu thuyết hơn cả những sách có ghi là tiểu thuyết hẳn hoi”(6).

Tư duy tiểu thuyết đã đưa lại sắc diện mới cho văn xuôi không phải chỉ những mảng đề tài mới được đề cập, mà cả ngay ở mang đề tài vốn quen thuộc như sản xuất, chiến đấu trước đây. Chẳng hạn ở mảng văn xuôi viết về chiến tranh sau 1975, với cách nhìn tiểu thuyết cũng có những biến đổi khác trước. Có thể kể ra một số sáng tác như : Họ cùng thời với những ai của Thái Bá Lợi, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy… Văn xuôi mảng đề tài này trước đây đều được quan tâm chủ yếu là chiến công, lòng dũng cảm, tinh thần xả thân vì lý tưởng thì bây giờ không chỉ là những điều đó mà còn chú ý đến số phận riêng tư của từng cá nhân, từng con người trong cái khốc liệt, nghiệt ngã của chiến tranh. Đọc Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy người ta thấy là một tiểu thuyết về chiến tranh nhưng rất ít tiếng bom rơi, đạn nổ. Cái mà tác giả quan tâm ở đây là số phận những người lính trong cuộc chiến đấu đó như thế nào. Họ hành động, suy nghĩ thể nghiệm mình trong khói lửa chiến tranh. Và ngọn lửa chiến tranh đã làm lộ ra đâu là những phẩm chất tốt đẹp, đầy lòng nhân ái, đâu là những kẻ dối trá, phi nhân. Người lính ở đây kông chỉ hát bài hát của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà còn là hiện thân của nỗi suy tư về số phận con người trong chiến tranh.

*

            Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật trong văn xuôi sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố thuộc về cơ cấu của văn xuôi như bút pháp, nhân vật trung tâm, hệ vấn đề, cốt truyện, hệ đề tài, lời văn… Chẳng hạn về bút pháp văn xuôi của ta sau 75 nhìn chung thay đổi khác so với trước. Xin dẫn ra đây ý kiến của nhà văn Bùi Hiển về vấn đề này : “Theo nhận xét riêng của tôi về khuynh hướng “hiện đại hóa” trong văn xuôi hiện nay, một trong những đặc điểm bút pháp của nó là trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi vẻ say sưa, nồng nhiệt so với những sáng tác trước đây về cách mạng và kháng chiến, tạo một khoảng cách nhất định với đối tượng miêu tả, do đó bình thản hơn, trí tụê hơn, thấm đậm hơn giọng điệu phê phán, bình giá, trên cơ sở một cái nhìn thiên về bề sâu tâm tưởng, ý nghĩa nhân sinh, tuy nhiên không vì thế mà lạnh lùng khô héo, trái lại nữa, qua giọng điệu lời văn ta vẫn thấy cái hơi ấm nhân tình” (7). Cái mà nhà văn Bùi Hiển nêu lên về mặt bút pháp như trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, ít vẻ say sưa nồng nhiệt và thấm đậm giọng điệu phê phán, bình giá… thực chất là kết quả của tư duy tiểu thuyết, của cách tiếp cận tiểu thuyết đối với hiện thực. Cũng như giọng hào hùng của văn chương một thời là kết quả của cảm hứng sử thi, tư duy sử thi.

Không chỉ bút pháp thay đổi, nhiều phương diện khác của văn xuôi cũng được biến đổi cho phù hợp. Chúng tôi xin lại phân tích kỹ hơn về sự thay đổi thể tài, một bước phát triển đáng chú ý của văn xuôi sau 75.

Văn xuôi 1945 – 1975 về thể tài mà nói thì thể tài lịch sử – dân tộc chiếm vị trí chủ đạo, quyết định toàn bộ diện mạo thể tài, hệ thống thể loại của văn xuôi ta. Và do đó, văn xuôi ở thời kỳ này có tham vọng trở thành bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc. Trong văn xuôi ở thời kỳ này, thể tài đời tư và thể tài thế sự giữ một vị trí thứ yếu không đáng kể. Nói chính xác hơn, thể tài đời tư và thể tài đạo đức thể sự không phải hoàn toàn vắng bóng trong những giai đoạn này. Những chuyện đổi đời nhờ cách mạng, những chuyện con người lớn lên nhờ cách mạng, hay những chuyện gác tình riêng vì việc chung… đầy rẫy trong văn học giai đoạn này không thể không khai, thác những yếu tố đời tư. Nhưng những chuyện đời tư như vậy thường trở thành một yếu tố chức năng của thể tài lịch sử dân tộc, bị chi phối và phối thuộc vào thể tài này. Ngoài chức năng phối thuộc này, thể tài đời tư cũng như thể tài đạo đức – thể sự ít phát triển với tư cách là thể tài độc lập.

Khác với giai đoạn trước, giai đoạn sau 75, thể tài đời tư và thể tài đạo đức – thế sự phát triển mạnh mẽ, và dần dần trở thành thể tài chính yếu của văn xuôi sau 75. Có thể kể đến các tác giả và các tác phẩm thuộc thể tài này như Nguyễn Khải với Cha và con, và…, Giữa cõi nhân gian bé tí…; Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Bến quê, Khách ở quê ra… ; Vũ Huy Anh với Cuộc đời bên ngoài ; Vũ Tú Nam với Sống với thời gian hai chiều ; Lê Lựu với Thời xa vắng, Dương Thu Hương với Những bông bần li, Ngôi nhà trên cát… ; Bùi Hiền với Tâm tưởng ; Xuân Thiểu với Gió từ miền cát, Người mẹ tội lỗi ; Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn trong Tướng về hưu, Nguyễn Quang Lập với Một giờ trước lúc rạng sáng, Những mảnh đời đen trắng ; Phạm Thị Hoài với Mê lộ, Thiên sứ ; Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú; Trần Văn Tuấn với Ngày thứ bảy u ám, Ngày không giờ v.v…, và v.v…

Phát triển thể tài thế sự đời tư văn chương có khả năng đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thế, nhất là trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh ba mươi năm bước sang đời sống hòa bình đầy phức tạp và thử thách. Con người bình thường, con người đời thường được miêu tả sâu sắc. Nhiều truyện ngắn, truyện vừa và cả tiểu thuyết nữa đã tập trung miêu tả những con người bất hạnh với những bi kịch đời họ. Đấy là cái bi kịch của một thời con người tự hy sinh cá nhân để vươn tới cái tập thể một cách giản đơn, cứng nhắc để  rồi suốt đời thất bại (Thời xa vắng). Đấy là cái bi kịch chấp chới giữa danh vọng và tình yêu với những tính toán thấp hèn không dám chịu trách nhiệm cuối cùng đều trở thành ảo ảnh cả (Bên kia bờ ảo vọng). Đấy còn là những bi kịch của những ân hận xót xa, dằn vặt vì những lỗi lầm mà con người vô tình hay cố ý gây ra (Con ăn cắp, Bức tranh)… Hình như trong văn xuôi có một khuynh hướng nổi lên rất rõ là khuynh hướng nhận thức lại một thời. Có người xem đó là thời xa vắng, có người xem đó là một thời lãng mạn, lại có người xem đó là thời của những thiên đường mù… Dù những nhìn nhận ngày có chỗ phải bàn lại, nhưng với cách nhìn đó hiện thực được đào sâu hơn, và cái quan trọng là mang đến trong văn xuôi tính phân tích, tính triết luận rất đáng quan tâm. Đây là cái phẩm chất mà văn xuôi một thời thiếu vắng. Bởi như chúng ta đã biết, văn xuôi sử thi rất giàu chất thơ, thấm đẫm chất tráng ca, nhưng đó là văn xuôi ca ngợi những vẻ đẹp khác nhau của con người và xã hội trên bình diện lịch sử – dân tộc, do đó nó ít tính chất phân tích lý giải. Văn xuôi thế sự trái lại đầy nếm trải, suy tư, chiêm nghiệm, phanh phui, mổ xẻ sự vật hiện tượng để đi đến cùng cái bản chất của nó.

Cái “trạng thái thái nhân thế” (chữ dùng của Hégei) trong văn xuôi sử thi không phải không có, nhưng ở đó chủ yếu vẫn là trạng thái thời thế của vận mệnh lịch sử dân tộc. Với trạng thái đó, người ta thường nói tới “nhân dân ta, thời đại ta, đất nước ta”. Còn phương diện thời thế như là nhân tình thế thái mà con người tồn tại, suy gẫm trong đó ít được đề cập. Trong văn xuôi sau 75, trạng thái nhân thế này không những được đề cập mà còn được cắt nghĩa, phân tích, lý giải. Người đọc thấy mình cũng được soi mình trong trạng thái nhân thế đó. Đọc Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng chẳng hạn, người đọc thấy sự phát triển xô bồ của Lý cũng như sự phát triển đơn giản của ông trong đời sống cá nhân đều là sự phản ảnh của những trạng thái nhân thế khác nhau mà xã hội chúng ta đã và đang trải qua. Nêu điều này tác phẩm có ý nghĩa cảnh tỉnh và nhận thức rất sâu sắc. Các trạng thái nhân tình thế thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Trần Văn Tuấn, Ma Văn Kháng, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Quang Lập, Lê Lựu đều góp phần đáng kể trong việc nhận thức và lý giải hiện thực trong thời hiện tại cũng như trong quá khứ.

Có thể nói văn xuôi thế sự, đời tư đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phân tích, lý giải suy tư về con người, xã hội của một thời đầy biến động. Đấy là một bước phát triển quan trọng của văn xuôi phù hợp với yêu cầu của hiện thực,  của đối tượng phản ánh. Và do đó, văn xuôi sau 75 cũng đã gặt hái được những thành tựu nhất định.

*

Những phát triển về tư duy nghệ thuật, thế tài, bút pháp, giọng điệu, lời văn… của văn xuôi cũng như của văn học nói chung suy cho cùng đều bắt nguồn từ sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người. Một khi mà quan niệm nghệ thuật về con người chưa thay đổi thì các phương tiện thể hiện chúng cũng chưa thay đổi, nhiều lắm chỉ là những biến đổi bộ phận. Chỉ có sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người mới tạo ra sự biến đổi toàn diện của văn xuôi cũng như văn học nói chung.

Quan niệm nghệ thuật về con người được xem như là cách tân quan trọng nhất của văn học cách mạng là thoát khỏi cái nhìn bế tắc về con người để hướng tới cái nhìn con người làm chủ vận mệnh của đất nước, dân tộc và cả vận mệnh của chính mình. Với quan niệm này con người được thể hiện chủ yếu trong văn học ta trong mấy chục năm qua là con người phơi phới lạc quan, dù gặp muôn ngàn khó khăn gian khổ nhưng cuối cùng nhất định chiến thắng. Đấy là những con người luôn luôn quên mình vì sự nghiệp chung, quên mình vì nghĩa lớn, quên mình vì tập thể. Đấy là những con người đầy ý chỉ, nghị lực đầy niềm tin với tấm lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Con người trong văn xuôi kháng chiến và văn xuôi xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung không nằm ngoài quy luật này.

Trong văn xuôi sau 75, quan niệm nghệ thuật về con người đang dần dần hướng về con người cá nhân, con người của những số phận riêng tư. Dĩ nhiên là không quay trở lại con người cá nhân chủ nghĩa của văn học một thời đã từng bị phê phán. Không phải ngẫu nhiên mà khi Thời xa vắng ra đời có người đã thốt lên : “Hình như trong xã hội ta cá nhân đang ra đời” (8). Từ những hình tượng tập thể và quần chúng văn xuôi ngày càng quan tâm xây dựng các hình tượng có tính chất , có cá tính và có số phận riêng tư. Từ những hình tượng tiêu biểu cho ý chí cách mạng, văn xuôi giai đoạn này đã xây dựng nên những tính cách đầy đặn trong mối liên hệ nhiều chiều của con người. Nhờ đó các nhân vật tồn tại như một nhân cách, chứ không còn là một ý niệm. Nó cũng khác với con người giai cấp, con người dân tộc có tính chất đơn điệu của một thời. Đó là con người cá tính. Đúng như Ma Văn Kháng viết : “Phải chăm lo cho từng người. Cá tính mãi mãi tồn tại và đòi hỏi được quan tâm”. Và nó không những được quan tâm mà đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn học đương đại.

Trên khuynh hướng chú ý đến con người cá nhân, trong văn xuôi sau 75 ở nhiều nhà văn đã làm rõ nét hơn quan niệm này. Người ta thấy con người sám hối, con người thức tỉnh, con người nhận đường và đầy suy tư dằn vặt trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Con người cô đơn đầy cay đắng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Con người vừa anh hùng vừa hèn hạ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập… Các thanh sắc khắc nhau ấy đã tạo cho văn xuôi sau 75 một diện mạo đa diện, hấp dẫn. Nếu trong văn xuôi sử thi quan niệm về con người tốt xấu rạch ròi, thì ở giai đoạn này con người được nhìn nhận trong cái đa diện của nó. Một kẻ từng được xem như là anh hùng có thể trong một phút nào đó là một tên hiếp dâm để rồi suốt đời ân hận, day dứt khôn nguôi về lỗi lầm ấy (Đò ơi – Nguyễn Quang Lập). Trương Chi khát khao bài hát của tình yêu, nhưng rồi cũng phải hát bài hát đông người, bài hát ca ngợi danh vọng, tiền tài để rồi kết thúc tiếng hát cũng là lúc văng tục (Trương Chi – Nguyễn Huy Thiệp). Một người chạy theo lối sống xô bồ tưởng như chỉ bỏ đi như Lý trong Mùa lá rụng trong vườn vẫn khiến chúng ta xe xót, cảm thương và cả phần nào quý trọng. Quả là văn xuôi sau 75 đã mở rộng cái nhìn đối với quan niệm nghệ thuật về con người.  Đó là cái nhìn đa diện, nhiều chiều. Vì lẽ này mà không ít nhà nghiên cứu phê bình văn học đã khuyên nhiều dấu son cho văn xuôi giai đoạn này với lời phê “đời hơn”, “thực hơn”…

Thế là gần như văn học nói chung, văn xuôi nói riêng đã đi trọn một đường trôn ốc trên con đường chiếm lĩnh con người bằng nghệ thuật. Gạt bỏ con người cá nhân chủ nghĩa trong văn học trước cách mạng, văn học cách mạng nhận thức con người như một chủ thể của lịch sử, và con người tập thể là âm chủ của văn học 1945 – 1975. Ở giai đoạn sau 75 văn xuôi trở lại con người cá nhân nhưng ở trình độ phát triển cao hơn, không phải kiểu con người cá nhân chủ nghĩa, mà là một nhân cách với đầy đủ tính chất phức hợp của nó.

Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người đã đưa đến việc thay đổi hệ thống miêu tả, phương thức thể hiện, phương thức tư duy, thể tài… tạo nên bước phát triển đáng kể của văn xuôi sau 1975.

*

Tóm lại, có thể thấy, dù chỉ trong khoảng 15 năm thôi, văn xuôi 1975 – 1990 đã có những phát triển đáng kể. Sự phát triển này không chỉ ở chỗ ngày càng xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn, ngày càng nhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của văn xuôi được ghi nhận trên việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và phương thức thể hiện… Tất cả những phát triển này không chỉ là luận chứng chứng tỏ bước phát triển của văn xuôi sau 75, mà còn là cơ sở để xem văn xuôi sau 75 là một giai đoạn phát triển độc lập trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 là một hiện tượng đang phát triển.

Rồi đây sẽ có những nhận xét, những đánh giá khác phù hợp hơn với sự phát triển này. Do đó những suy nghĩ được trình bày trong bài viết này chỉ xin được xem như là những suy nghĩ bước đầu.

Tạp chí Cửa Việt, số 6 năm 1991

(Báo cáo đề dẫn tại Hội nghị khoa học “Văn xuôi Việt Nam sau năm 1975”của trường ĐHTH TP Hồ Chí Minh , 1990).

—————

(1)              Hoàng Ngọc Hiến – Văn học, học văn, Trường CĐSP TP Hồ Chí Minh và trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản, 1990, tr. 137, 138.

(2)              Bùi Hiển – Gắn bó tâm huyết với công cuộc đổi mới, Tuần báo Văn nghệ, số 49 ra ngày  3.12.1989, tr.7.

(3)              Hoàng Ngọc Hiến – Tư duy tiểu thuyết và phôn cơ lo hiện đại, Tạp chí Sông Hương, số 35 năm 1989, tr. 78.

(4)              Nguyễn Kiên –Bước khởi đầu của công cuộc tìm tòi. Tạp chí Văn học số 2.1989,tr.18.

(5)              Hoàng Ngọc Hiến – Hai tác gỉa mới trong nền văn xuôi đang đổi mới, Kỷ yếu Những vấn đề thời sự văn học, ĐHSP Hà Nội 1, 1.1988, tr.64.

(6)              Nguyên Ngọc – Hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay, Văn nghệ số 15, 14.4.1990, tr.7.

(7)               Bùi Hiển – Bđd,tr.7.

(8)               Hoàng Ngọc Hiến -Sđd,tr.103

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1174:bc-phat-trin-ca-vn-xuoi-vit-nam-sau-1975&catid=63:vn-hc-vit-nam&Itemid=106

LÊ LỰU VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG THỜI XA VẮNG

LÊ LỰU VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG THỜI XA VẮNG
Nguyễn Như Trang – Ngô Thu Thủy
Thời xa vắng là tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu tên tuổi của Lê Lựu trong làng văn Việt Nam hiện đại, mở đầu cho khuynh hướng nhận thức lại hiện thực của văn học Việt Nam sau 1975. Với cái nhìn thế sự, nhà văn đã phản ánh chân thực hình ảnh của người lính ở hai mảng đời sống: chiến tranh và hòa bình, với tất cả những vênh lệch của số phận, tình yêu, hạnh phúc.

Có thể nói, Thời xa vắng là một trong những tác phẩm đầu tiên mang trong mình dấu hiệu của đổi mới văn học. Một trong những dấu hiệu đáng mừng ấy là sức hấp dẫn của nghệ thuật kể truyện mà trong đó yếu tố giọng điệu trần thuật đóng vai trò quan trọng. Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng đạo đức của nhà văn thể hiện qua lời văn nghệ thuật (1) và thông qua chất giọng phổ quát của mình, nhà văn gửi gắm thông điệp nghệ thuật mà mình đúc kết. Trong Thời xa vắng, nhà văn vẫn giữ kiểu trần thuật theo ngôi thứ ba song đã có sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật, tạo nên sự phong phú, đa dạng về giọng điệu. Là một yếu tố đặc trưng thể hiện hình tượng tác giả trong tác phẩm, giọng điệu tạo chiều sâu, sự phong phú của chủ thể sáng tạo, là thước đo tài năng, phẩm chất của người nghệ sĩ. Đọc Thời xa vắng, độc giả nhận thấy một Lê Lựu sắc sảo nhưng đôn hậu, am tường về cuộc sống và con người dân quê, luôn đau đáu suy ngẫm về cuộc đời, con người. Giọng điệu trần thuật trong Thời xa vắng là sự lặp lại của các sắc thái tình cảm, thái độ của tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Đó là giọng đa thanh giàu cảm xúc trên nhiều cung bậc: khi hài hước bông lơn, khi xót xa thương cảm, khi khắc khoải yêu thương, khi chìm sâu trong suy ngẫm, triết lý.

1. Giọng châm biếm, hài hước

Thấp thoáng đằng sau những câu chữ trong Thời xa vắng là một Lê Lựu hóm hỉnh, sắc sảo và mẫn cảm. Không giễu nhại như Vũ Trọng Phụng, không đả kích quyết liệt như Nguyễn Công Hoan, Lê Lựu chỉ hài hước, châm biếm nhẹ nhàng để sau đó cảm thông, xót xa chứ ít khi bôi bác, lên án… Ngôn từ mang đậm chất dân quê và lối nói hàng ngày, những nét phác họa về ngoại hình, tính cách, hành động của nhân vật đa gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc.

Cuộc hôn nhân giữa Sài và Tuyết là cảnh bồng bồng cõng chồng đi chơi…, bởi vậy nó đã có bao điều bất ổn. Cuộc sống của hai vợ chồng trẻ con Sài – Tuyết là chuỗi dài những nụ cười, nước mắt, những bi, hài kịch. Lúc nhỏ, khái niệm vợ với Sài chỉ là “người quét cái sân và cái ngõ dài thăm thẳm”(2), là những phản kháng, ấm ức trẻ con đến nực cười: không đi cùng, không ngồi cùng phía, không nhờ xới cơm, không chấm cùng bát… Giọng điệu hài hước bật ra từ những lời nói, hành động, cử chỉ của một anh chồng trẻ con: “Bố mày đến đây thì đếch sợ, ông huých cho chó nó cắn lồi mắt bố mày ra”, “làm xong việc nó chạy òa như con gà, con ngan vừa bị nhốt ra khỏi lồng”(3)… Lớn lên, Tuyết đã trở thành nỗi ám ảnh với Sài, khiến anh luôn tìm cách lẩn tránh, thậm chí trở thành một trong những nguyên nhân khiến anh quyết chí đi bộ đội, đi B…, đi bất cứ nơi đâu miễn là không nhìn thấy Tuyết.

Sài không những không yêu mà còn ghét Tuyết. Trong con mắt Sài, Tuyết luôn hiện lên xấu xí, thô kệch, thậm chí… ngu đần! Thực ra Tuyết không xấu đến mức như vây. Cô cũng là một cô gái khỏe mạnh, có duyên và hoàn toàn có thể có được hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc sống chung với Sài từ những ngày còn bé tí có lẽ đã khiến Tuyết mất ý thức về bản thân mình, khiến cô trở nên khổ sở, tự ti. Và cô tìm cách làm đẹp mình, để được chồng yêu. Nhưng khốn khổ thay, những gì cô làm lại trở nên phản cảm, bởi sự kệch cỡm, lố bịch, thiếu sự cân đối, hài hòa. Lê Lựu đã mô tả sự trái khoáy ấy bằng đoạn văn tả chân dung của Tuyết trong lần đi thăm chồng. Ông dựng lên trước mắt người đọc một bức chân dung trọn vẹn, hoàn chỉnh về diện mạo, trang phục, hành động, cử chỉ, lời nói… cụ thể đến mức chi tiết, sinh động.

Đó là chân dung cô gái quê Hạ Vị với “một cái áo sơ mi nõn chuối, một cái áo lót đông xuân màu hồng mặc phía trong” với “đầu chải bêxăngtin nhếnh nháng lật ngược và được đè ập xuống bởi vòng khăn vấn bằng vải toan nhuộm màu nâu non còn mới trông nó chặt chằng như một cái đai”(4). Cách tiếp cận đối tượng từ khoảng cách gần cùng với lối so sánh ví von độc đáo, gần như phóng đại khiến người đọc bật cười trước sự tương phản cực mạnh giữa tỉnh – quê, mốt – lạc hậu, đẹp – xấu… Dường như để bức chân dung kia thêm hoàn hảo, Lê Lựu đã đưa những nét vẽ cuối cùng với những mảng màu thừa được trộn hổ lốn: “Chiếc quần súng sính dài quét gót, nhưng lại xắn vận vào cạp, kéo ống lên ngang cổ chân để lộ đôi bàn chân to bè bè, chi chít từng vệt gai cào. Nó căng lên nứt nẻ bởi những quai dép cao su chằng cả phía trước và phía sau” rồi “cả áo trong, áo ngoài kéo lên để lộ từng mảng lưng đen lằn từng múi thịt”(5). Sự thô kệch của Tuyết khiến người đọc lo lắng thay cho cô: cô sẽ khiến chồng yêu mình thế nào đây, trong khi Sài đối với cô đã có quá nhiều ác cảm?

Văn phong của Lê Lựu giản dị, tự nhiên, lôi cuốn, sinh động và hài hước. Miêu tả hành động, cử chỉ của Tuyết, nhà văn sử dụng hàng loạt từ ngữ khôi hài: chuỗi động từ, từ láy tượng hình… (cô reo lên, cười toe toét, son són đi trước, bạch bạch ra ngoài, nói cười hớn hở, lại bạch bạch về, lại nói cười hổn hển, huyên thuyên táo tợn…) để người đọc thấy sự vô duyên đến nực cười của Tuyết. Khai thác mối quan hệ giữa đôi vợ chồng Sài – Tuyết, Lê Lựu đã cho thấy những bất ổn, những khập khiễng trong cuộc sống của họ và từ đó, tiếng cười cất lên như một sự cảm thông cho những hành động lạc điệu. Đằng sau tiếng cười ấy là sự xót xa, chua chát của một trái tim giàu lòng nhân ái và mẫn cảm với cuộc đời, con người.

Trong Thời xa vắng có một nhân vật được nhà văn nhắc đến khá nhiều: đám đông. Nhân vật đám đông đóng vai trò khá quan trọng trong tác phẩm, tham gia vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người. Nhà văn tỏ ra là người nắm tâm lý đám đông khá vững. Giọng châm biếm, hài hước toát lên từ đó. Người dân quê mang trong mình đầy đủ bóng dáng của sự tự ti, hèn nhát. Ai cũng tính toán khôn ngoan, ai cũng muốn bày tỏ ý kiến nhưng lại chờ đợi người khác nói hộ mình. Dường như cuộc đời họ đóng khung trong hai chữ chúng ta, nếu bứt phá ra để đứng về phía cái tôi thì hẳn là một sự dại dột vô cùng, không khéo mang vạ cũng nên. Đám đông hay dư luận còn có một đăc tính: gió chiều nào, xoay chiều ấy. Chuyện giăng gió của Sài còn hệ trọng hơn chuyện vỡ đê bối, cuốn hút hơn cả “dòng nước vỡ cuốn mất mười bẩy ngôi nhà”, nghiêm trọng như “giặc giã sắp tràn về, như dân làng Hạ Vị sẽ lụn bại vì nó, như nước sông lên to cuốn hàng nghìn người, như là nhà nào cũng sẽ chết đói chết rét vì chuyện ấy”(6) nhưng lại nhanh chóng trở thành chuyện không có gì: “dư luận đã bôi nhọ thanh danh anh em con cháu nhà ông Hà thì chính dư luận đã rửa sạch tất cả”(7). Dư luận trong Thời xa vắng không chỉ là đám đông nhát sợ, tọc mạch, a dua… mà còn trở thành một áp lực vô hình, một khuôn khổ, giới hạn kìm kẹp con người, khiến Sài và tất cả các nhân vật khác không thể thoát ra được. Đặt ra vấn đề này, ngòi bút Lê Lựu không đơn thuần chỉ là hài hước, châm biếm mà hơn thế, tác giả muốn người đọc phải xót xa, suy ngẫm. Phải chăng đó chính là phần chìm của sáng tạo nghệ thuậtt trong nguyên lý tảng băng trôi của Ernest Hemingway?

2. Giọng xót xa, thương cảm

Giọng xót xa, thương cảm xuất hiện khá đậm đặc trong tác phẩm. Nhà văn thường di chuyển, mở rộng điểm nhìn để bày tỏ quan niệm, thái độ của mình. Lời nửa trực tiếp và điểm nhìn bên trong trở thành phương tiện hữu hiệu để chuyển tải giọng điệu này. Nhà văn thể hiện thái độ thông cảm, xót xa trước những số phận éo le và trước những nhận thức lạc hậu của người dân làng Hạ Vị.

Thời xa vắng, Lê Lựu không chỉ đau lòng về nỗi bất hạnh của một Sài yếm thế mà còn trăn trở về một Tuyết cô đơn khổ hạnh, về một Hương yêu hết mình nhưng thất bại, một Châu ghê gớm nhưng cũng chịu nhiều cay đắng. Ngòi bút của ông dường như mở rộng ra để san sẻ với tất cả mọi người.

Tuyết, giống như bao cô gái khác, khao khát tình yêu và hạnh phúc nhưng lại bị chồng coi như cái gai trong mắt. Đó là người đàn bà nhà quê bất hạnh và đáng thương. Điểm nhìn bên trong đã giúp nhà văn hiểu thấu nỗi khát khao và cô đơn của cô gái tuổi mười bảy: “Cái tuổi dậy thì của người con gái mỗi ngày như trông thấy cái cơ thể dồi dào sức lực của mình cứ mát mẻ và êm ái căng đầy lên, đã thấy khao khát đến cháy khô đôi môi mọng đỏ trước cái nhìn đăm đắm của con trai, đã thấy phập phồng mỗi đêm nghe tiếng chồng chạy về”(8), hiểu những niềm vui nho nhỏ khi Tuyết được đi cùng Sài, được người làng tán tụng, gán ghép. “Lê Lựu hiểu nhân vật của mình đến tận chân tơ, kẽ tóc, đến tận những ngọn ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ”(9). Nhà văn đã nhìn thấu nỗi cơ cực của người đàn bà “cả một thời con gái được chồng nhòm ngó đến một lần rồi nuôi con một mình…” để rồi “cứ phải ép mình xuống giường chịu cho qua hết đêm này đến đêm khác”, để rồi “đêm nào cũng phải nghĩ một mình, ôm con khóc mà nghĩ”(10). Những dòng văn rưng rưng nước mắt, ngậm ngùi cho một số phận tủi cực và cam chịu. Lê Lựu cảm thông với những hao háo, thèm thuồng tội nghiệp của Tuyết, “Từ câu quát mắng, thèm một quả đấm, một cái tát, bởi những cái đấy là tục tằn, thô lỗ vẫn được tiếng là cô có chồng, chồng đánh, chồng chửi, chồng giận, chồng hắt hủi…”(11). Tuyết đã từng là thành viên của hội thanh niên và hội phụ nữ nhưng người ta cũng quên cô là người của đoàn thể mình vì cô có đi họp bao giờ. Sau này có một đứa con với Sài, Sài cũng chỉ nhớ đến đứa con mà quên mất cô đã sinh ra nó. Sự mất mát, dở dang dường như gắn chặt với cuộc đời cô vậy. Cảnh ngộ của cô đáng được thông cảm hơn là phê phán! Và từ đó ngòi bút của nhà văn như ngập ngừng hơn khi viết và đôi mắt như ầng ậng nước trước niềm mơ ước đầy xót xa của Tuyết.

Xã hội cũ tạo nên một Sài yếu đuối, yếm thế, nhút nhát, không dám sống cho chính mình. Mười bốn tuổi đầu, Sài đã phải sống thành hai cuộc đời: thật và giả. Ban ngày chỗ công chúng, anh là con người giả, sống vì mọi người, làm đẹp lòng mọi người, nghĩa là yêu vợ như một ông chồng đầy trách nhiệm. Ban đêm, anh mới có cơ hội trở thành con người thật của mình, có một khoảng tự do cuối cùng của tình cảm và quyền làm người. Trước những dằn vặt, đau khổ của Sài, nhà văn đôi lúc không kìm nén nổi cảm xúc đã thốt lên “thật khốn khổ thay”, “tội nghiệp anh”!

Được giải phóng khỏi Tuyết, Sài trở thành người tự do, hoàn toàn có thể làm những gì mình muốn. Những tưởng anh sẽ mạnh mẽ, bản lĩnh hơn thời gian trước, nào ngờ, trong cuộc hôn nhân tiếp theo, anh lại trở nên yếu đuối và nhu nhược. Sống với Châu, Sài quần quật sấp ngửa suốt ngày. Mỗi ngày, anh đầu tắt mặt tối từ 4 giờ sáng đến 2 giờ đêm để nấu cơm, rửa bát, giặt giũ, mua tem phiếu, cho con ăn… và trăm thứ việc không tên khác. “Chu trình khép kín ấy khiến Sài “mất đi 11 cân 4 lạng, già đi đến hơn chục tuổi, nhom nhem và bê tha như anh đạp xích lô trực đêm trước cửa ga” chỉ trong vòng “hơn 300 ngày kể từ khi lấy vợ và 196 ngày kể từ khi sinh con”(12). Đến lúc anh có thời gian nhìn lại mình thì sự đổ vỡ đã gần kề. Anh trở thành con người âm thầm lặng lẽ. Bao nhiêu giằng xé, day dứt, “hàng tiếng đồng hồ đứng lặng như chết, chỉ có hai làn môi động đậy run run và khuôn mặt như méo mó hẳn đi”(13). Cuối cùng, Sài đã dũng cảm quyết định tìm lại chính mình, dù anh đã ở tuổi 40.

Cuộc đời Sài là cả một chuỗi bi kịch. Bỏ vợ, anh hy vọng vào một cuộc đời mới tốt đẹp nhưng cuối cùng cái gia đình mà anh cố công vun đắp đã tan vỡ. Anh hoàn toàn thất bại trên con đường mình đã đi. Sài và Thời xa vắng đã “gợi lên cho nhiều người chút động lòng và sự nuối tiếc. Sự nuối tiếc ở đây là cái hích đầu tiên để người ta nghĩ tiếp và tìm ra cho mình một cách sống xác đáng”(14).

Không chỉ trải lòng trước những số phận bi kịch như Sài, Tuyết, Hương, Châu…, Lê Lựu còn bày tỏ niềm cảm thông, chua xót với nỗi tủi nhục của người dân làm thuê cuốc mướn. Nếp suy nghĩ nông cạn, thói ăn sẵn, sợ thất bại và lối sống an toàn đã khiến họ, cả làng Hạ Vị, kéo nhau lũ lượt đi làm thuê. Trong Thời xa vắng, Lê Lựu xót xa trước cảnh con người vì miếng cơm manh áo mà đánh mất danh dự và giá trị của bản thân. Sài, từ khi còn nhỏ, đã “ứa nước mắt vì bị khinh rẻ” đã “hiểu thế nào là thân phận của kẻ đi làm cốt chỉ kiếm lấy một bữa cơm”(15). Có lẽ, quá khứ ấy vẫn day dứt trong Sài và phải chăng đó là một phần động lực thôi thúc anh trở lại xây dựng quê hương?

Viết về những con người – nạn nhân của hoàn cảnh, những tàn dư của nếp sống lạc hậu xưa, chất giọng xót xa thương cảm đã góp phần thể hiện sâu sắc tấm lòng của nhà văn trước cuộc đời và số phận con người. Lê Lựu đã viết về quá khứ với sự nhận thức lại một cách sâu sắc, với ý thức hướng về một tương lai tốt đẹp hơn. Thiết nghĩ, đó chính là điều đáng quý trong nhân cách và bản lĩnh người nghệ sĩ.

3. Giọng khắc khoải, da diết

Trong tiểu thuyết của Lê Lựu, nhân vật hiện lên đây tâm trạng: Sài khát khao và lẩn tránh, Tuyết chờ đợi và hy vọng, Hương da diết ngóng trông. Và giọng khắc khoải, da diết giúp nhà văn thâm nhập vào thế giới tình cảm sâu kín của nhân vật. Người trần thuật đã tựa vào giác quan, tâm hồn nhân vật để bày tỏ tâm tư, cảm xúc: đó là nỗi niềm tha thiết yêu thương của Hương, là ước mơ cháy bỏng tâm can của Sài… Sự luân phiên, đan cài giữa điểm nhìn các nhân vật và điểm nhìn người trần thuật được sử dụng linh hoạt đã góp phần tạo nên tính đối thoại trong ngôn ngữ, một trong những dấu hiệu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Thời xa vắng là câu chuyện tình tha thiết của Hương và Sài. Hương là một cô gái thẳng thắn, mạnh mẽ và trung thực. Trận nước lụt trắng xóa ở làng Hạ Vị đã gắn kết đời cô với Sài để sau đó tình yêu và nỗi nhớ đốt cháy tâm can cô. Cô chỉ biết sống và yêu thầm lặng, để rồi gửi tình cảm của mình vào những trang thư. Đây là nơi ký thác niềm vui, nỗi buồn, sự oan uổng, khát khao và chờ đợi. Đó là những háo hức, mong chờ “liệu ở nhà anh đã biết tin này chưa!… Em chỉ cần có một mình anh yêu em, anh ở bên em”, là những lo lắng với giấc mơ hãi hùng “không đêm nào em không khóc và đã có lần nằm mơ thấy anh đang bị bủa vây có hàng trăm hàng nghìn người cầm dao, cầm súng, vòng trong vòng ngoài xô vào chém và bắn anh”, là những băn khoăn cực độ “anh thân yêu ơi! Những ngày vừa qua bố mẹ, anh Tính và họ hàng làng xóm có đay nghiến sỉ vả anh nhiều không?”(16). Những câu hỏi liên tiếp dồn dập chứng tỏ con sóng tình yêu trong cô không phút nào yên. Chính vì con thuyền tình không cập được bến của lứa đôi hạnh phúc mà trong cô luôn nảy sinh lòng khắc khoải trông mong.

Điều này thể hiện khá rõ trong đoạn văn miêu tả tâm trạng của Hương khi đọc bài báo viết về chiến công của Sài. Người đọc nhận thấy sự đan cài giữa giọng Sài và giọng Hương. Sự thay đổi điểm nhìn đã tạo nên cuộc đối thoại đầy kịch tính trong nội tâm của Hương, để rồi cuối cùng, tình yêu cứ khắc khoải, day dứt mãi trong cô: “Đừng khóc khi trở về thấy em âu yếm, vỗ về chồng con mà câm lặng, lẩn tránh em. Anh bé bỏng của em ơi. Nhưng… anh ơi… Nhưng đến bao giờ em mới có thể để anh hiểu nỗi lòng em, để anh bớt đau đớn, tủi hận. Bao giờ! Đến bao giờ hở anh!!!”(17). Giọng khắc khoải, da diết không chỉ bộc lộ ở ngôn từ mà còn nằm trong những dấu chấm lửng, chấm than, trong những câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong trái tim người con gái si tình.

Hương mạnh mẽ, nồng nhiệt bao nhiêu thì Sài lại rụt rè, trầm lặng bấy nhiêu. Có lẽ sự trái dấu ấy đã trở thành sức hút cuốn họ lại với nhau. Dòng nước lũ lem lém nuốt chửng những con đường làng, những bãi ruộng xanh non và tạo cơ hội cho hai kẻ si tình gặp nhau giữa mênh mông đất trời. Tình yêu, từ đó, đã trở thành ngọn lửa âm ỉ cháy trong trái tim Sài. Anh lên đường nhập ngũ với một sự lặng thinh lầm lũi, quyết định “dũng cảm” này xé tan một mối tình để cả cuộc đời anh phải sống trong ân hận. Là một người lính với vẻ ngoài thô mộc khô khan nhưng thực chất bên trong Sài lại là một con người khác, đang vùng vẫy với niềm khao khát được yêu, được sống với cảm xúc thật của mình. Nếu Hương tìm đến những lá thư để trút vào đó những tiếng lòng thổn thức thì Sài tìm thấy chính mình trong những dòng nhật ký. Anh trò chuyện hàng đêm với Hương, tưởng tượng ra tâm trạng nhớ nhung, khuôn mặt bừng bừng hạnh phúc của Hương khi sắp được làm cháu dâu nhà họ Giang… Anh và Hương cùng đi thi, cùng ôn bài, cùng đi ăn kem bờ hồ, chụp ảnh, lai nhau về quê… Ban ngày hiện thực càng chua chát bao nhiêu thì ban đêm tình cảm ảo mà anh xây dựng lại êm đềm, ngọt ngào và lãng mạn bấy nhiêu. Làm sao Sài có thể tưởng tượng ra những việc điên rồ và nguy hiểm ấy nếu không phải cuộc sống thực kia đã kìm hãm anh trong cô đơn và mệt mỏi, khiến anh phải sống trong thế giới tinh thần của riêng mình vào ban đêm. Thế giới đó có Hương và Sài cần nó để tiếp tục sống. Dường như anh càng chạy trốn, tình yêu của anh càng lớn, càng mãnh liệt hơn.

Những lá thư, những trang nhật ký đầy tâm trạng của Hương và Sài chính là điểm nhìn thuần túy riêng tư, nội tại. Cả thiên truyện, giọng khắc khoải, da diết tập trung vào hai con người khao khát yêu đương: Hương và Sài. Khát vọng cháy bỏng trong tình yêu của họ chính là minh chứng rõ rệt nhất của ý thức cá nhân về hạnh phúc. Viết về mối tình tha thiết, mãnh liệt ấy, Lê Lựu bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng trước khát vọng về hạnh phúc cá nhân của con người. Đó cũng chính là chiều sâu nhân bản trong tác phẩm.

4. Giọng trải nghiệm, suy ngẫm

Lê Lựu sinh tại Khoái Châu, Hưng Yên, giữa những cách đồng đậm màu đất phù sa của đồng bằng sông Hồng – một vùng đất từ xa xưa đã ngụp lặn trong nghèo đói. Giống như làng Hạ Vị trong tiểu thuyết Thời xa vắng, huyện Khoái Châu nằm bên con đê lớn của sông Hồng và nhiều năm trời bị lũ lụt tàn phá. Giống như những người dân Hạ Vị, dân phủ Khoái Châu phải bán sức lao động và đi cày thuê ở những xã khấm khá hơn. Và cũng giống như Sài, Lê Lựu đã có một cuộc đời không hề bình lặng. Bởi vậy, Thời xa vắng có dáng dấp một cuốn tự truyện của tác giả. Từ câu chuyện cuộc đời mình, nhà văn đã đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa lớn lao: khát vọng hạnh phúc cá nhân, bản lĩnh sống, tâm lý xã hội của thời đại… Do đó, nhân vật dù là con người cụ thể nhưng số phận của họ không phải là trường hợp cá biệt mà đại diện cho cả một thế hệ trong giai đoạn lịch sử đầy những biến động, thăng trầm.

Có lẽ vì thế, giọng trải nghiệm, suy ngẫm trở thành chất giọng chủ đạo của Thời xa vắng, mặc dù nó ít thể hiện trực tiếp trong tác phẩm. Tuy nhiên, đằng sau những cảm xúc châm biếm, hài hước, xót xa, thương cảm, khắc khoải, da diết… là những trải nghiệm cá nhân, những suy ngẫm về cuộc đời, con người, về tình yêu… Đó có thể là trải nghiệm của nhân vật, cũng có thể là suy ngẫm của người trần thuật. Nhà văn khi nhập vào nhân vật để bộc lộ, tâm tình, chia sẻ, khi đóng vai người quan sát, lắng nghe, đối thoại, khi lại trực tiếp bộc lộ quan điểm của mình… Nhan đề Thời xa vắng cũng khiến người đọc phải suy ngẫm: thời nào – thời mà dưới tác động của lịch sử, con người chỉ như một dây leo không dám vượt ra khỏi khung giàn của nó; xa vắng – một thời đã qua mà sao cảm giác như vẫn lẩn khuất đâu đây, vẫn chưa xa… Để rồi từ đó, người đọc ý thức về cách sống, về tình yêu, hạnh phúc của mình hơn, để hoàn thiện mình hơn.

Xoay quanh bi kịch của Sài, Lê Lựu muốn người đọc suy ngẫm về những nguyên nhân dẫn đến bi kịch ấy. Dễ dàng nhận thấy, nguyên nhân trực tiếp là sự hèn nhát, thiếu bản lĩnh của Sài. Anh không dám quyết định điều gì, không dám sống cho bản thân mình, đến lúc có quyền quyết định, lại vội vã, sai lầm. Cả cuộc đời Sài có thể gói gọn trong một câu nói đầy chua chát của chính anh: “Nửa đời người phải yêu cái người khác yêu, nửa còn lại đi yêu cái mình không có”(18). Bi kịch của Sài cũng là bi kịch của thời đại. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến những đau khổ của Sài còn là áp lực vô hình của thiết chế xã hội, của dư luận. Chính xã hội ấy đã đè bẹp quyền sống cá nhân của con người. Sài không hoàn toàn yếu đuối và hèn nhát, anh cũng có những phản kháng nhưng mỗi lần phản kháng, Sài lại bị những kìm kẹp của xã hội trói buộc, khiến anh không thể sống như mình mong muốn. Lê Lựu “nghiêm khắc trước Sài nhưng cũng cảm thông cho những khó khăn khách quan mà Sài khó lòng có bản lĩnh vượt qua được. Đó là môi trường, hoàn cảnh cụ thể xung quanh anh ta”(19). Tác phẩm vì vậy mở đầu cho khuynh hướng nhận thức lại trong văn học sau 1975, nhìn nhận lại quá khứ để nhận ra những sai lầm ấu trĩ, những định kiến hẹp hòi… Đặt ra vấn đề ấy, Lê Lựu đã trở thành một trong những người tiền trạm cho văn học đổi mới.

Không chỉ thể hiện những trải nghiệm về cuộc đời, nhà văn còn chia sẻ với nhân vật những suy ngẫm về tình yêu: “xóa bỏ sự cọc cạch này để chắp vá với sự cọc cạch khác là đánh lừa nhau”(20). Lê Lựu đã cho người ta biết thêm một điều thật giản dị: cuộc sống không phải lúc nào cũng hoàn hảo; biết chấp nhận đắng cay và nhìn thẳng vào sự thật thì con người ta mới có thể sống là chính mình. Hầu như trong suốt hơn 300 trang sách, Lê Lựu để cho nhân vật tự suy ngẫm, tự nói lên trải nghiệm của chính mình, ông chỉ là người đứng ngoài quan sát. Tuy nhiên, có lúc, nhà văn dường như không thể đứng ngoài, không thể tiếp tục tỏ ra lạnh lùng, khách quan được nữa. Chứng kiến sự đổ vỡ lần thứ hai của Sài, trước cảnh hai đứa trẻ thơ khóc òa chạy theo bố, Lê Lựu như muốn kêu to với mọi người rằng: “các người cứ yêu nhau say đắm và mê mẩn rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các người. Nhưng đừng kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ để rồi lại trút lên cái cơ thể bé bỏng của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người”(21). Ngẫm cho cùng cái hiện thực xót xa và đầy oán trách này tồn tại đầy rẫy ở trong xã hội. Nó là sự thực mà con người ta đôi khi dù không muốn vẫn gặp phải. Cuộc sống riêng tư của Lê Lựu không bình lặng như mọi người. Có lẽ, cuộc sống riêng ấy đã cho ông những trải nghiệm và hơn hết là cho ông những trang viết có giá trị.

Giọng trải nghiệm suy ngẫm không phải đến Lê Lựu mới có mà nó đã xuất hiện từ lâu trong những trang văn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nguyên Hồng,… nhưng giọng điệu trải nghiệm, suy ngẫm của Lê Lựu về cuộc đời, con người, tình yêu đã trở thành tiếng nói riêng khá độc đáo trong tiếng nói chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại.

_______________

1. Lê Huy Bắc, Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 9-1998.

2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18, 20, 21. Lê Lựu, Thời xa vắng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

9, 14, 19. Lê Lựu, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 312, tháng 6-2010
Tác giả: Nguyễn Như Trang – Ngô Thu Thủy

Download TÁC PHẨM: “THỜI XA VẮNG”:

http://www.mediafire.com/?eueqsei5dfd7qi5

http://www.mediafire.com/?7yih0bi88rs71vs

http://vhnt.org.vn/Newsdetails.aspx?NewID=357

Previous Older Entries